Trong bài viết sau đây, tay máy có tiếng trong làng săn ảnh của Hollywood – Georgia Cassimatis – “thú nhận” cách thức hoạt động của các paparazzi và bật mí về việc những ngôi sao nổi tiếng đã sử dụng những tay săn ảnh như thế nào, để làm lợi cho họ.
“Tính đến nay, tôi đã làm công việc săn ảnh lén này được 7 năm, và nó giúp tôi kiếm được bộn tiền. Tôi chưa bao giờ có tham vọng trở thành một paparazzi. Giấc mơ thuở ấu thơ của tôi là trở thành một nhà nhiếp ảnh thời trang cho các tạp chí phụ nữ. Thế nhưng, trong thời gian chụp ảnh cho các tờ báo, tôi nhận ra mình sẽ kiếm được rất nhiều tiền từ những tấm hình chụp lén khoảnh khắc trong cuộc đời thật của những người nổi tiếng.
Phải nhìn nhận rằng, 7 năm trước, công việc này làm dễ dàng hơn, bởi vì lúc đó không có nhiều paparazzi, chỉ khoảng 20 tay săn ảnh ở Hollywood. Còn bây giờ là 120 người, nếu không muốn nói con số có thể còn nhiều hơn nữa. Các phương tiện truyền thông ngày nay cũng có nhu cầu lớn về những tấm ảnh chụp lén (đó là lý do tại sao ngày càng có nhiều tay săn ảnh). khiến việc chụp được những bức ảnh “độc quyền” càng khó hơn.
Cách thức hoạt động là chúng tôi lấy tin từ những người trong cuộc, chẳng hạn như bồi bàn, nhân viên các bệnh viện, những công ty, nhân viên gửi xe hộ… Nhiều paparazzi hàng đầu còn thuê người tìm kiếm những ngôi sao nổi tiếng mỗi khi họ xuất hiện trên đường phố, và sẽ gọi điện báo cho họ khi phát hiện “con mồi” nào đó. Một mánh khóe khác là sử dụng những người sưu tầm chữ ký, những người này sẽ đến gần các ngôi sao và ngăn cản họ, để các paparazzi lẻn đến điểm cần thiết. Ngày nay, nhiều đại lý hình ảnh còn thuê những người nhập cư bất hợp pháp đi rảo khắp Los Angeles với giá 10 USD/giờ. Nếu họ đi ngang một ngôi sao nổi tiếng và chụp được một pô ảnh, họ có thể bán nó với giá 100.000 USD, bằng tiền công họ làm việc trong 3 năm.
Những tấm ảnh kiếm ra tiền nhiều nhất là ảnh đám cưới và con cái của các ngôi sao. Ví dụ, tấm hình chụp Julia Roberts và hai đứa con sinh đôi của cô có giá 100.000 USD. Nếu tôi bán nó đi khắp thế giới, tôi sẽ kiếm thêm được 150.000 USD nữa. Tôi cũng từng “đột nhập” vào tiệc cưới của Matt LeBlanc và hôn lễ của Jennifer Aniston, trong vai trò một người khách. Việc này rất khó, bởi vì bạn phải làm sao giấu được sự hồi hộp và tỏ ra mình là một khách mời VIP của những hôn lễ này. Thỉnh thoảng, tôi cứ tự nhiên vào và chẳng cỏ ai buồn hỏi tên tuổi tôi. Một khi đã vào được bên trong, hành động tiếp theo là tôi sẽ đến đứng phía sau tay nhiếp ảnh chính thức và chụp lén bằng chiếc camera nhỏ xíu giấu trong lòng bàn tay.
Mặc dù có những lúc người nổi tiếng đã nổi giận, nhưng số vụ bạo lực liên quan đến các ngôi sao đang giảm dần. Họ đã học được cách phải đối xử tử tế với paparazzi, để những tay săn ảnh này không “phát tán” những tấm ảnh gây xì-căng-đan của họ. Mối nguy hiểm thật sự trong công việc này ngày nay, là sự cạnh tranh giữa các paparazzi đối thủ. Tôi từng chứng kiến cảnh những tay săn ảnh đuổi đánh và chặn xe nhau, khi họ đuổi theo một ngôi sao. Tôi cũng từng bị một tay săn ảnh khác đấm một cú mạnh khi đang cố gắng chụp một tấm ảnh độc quyền, nhưng vì đây là phản ứng tự nhiên của những kẻ cạnh tranh nhau và cũng là một phần của công việc nên tôi phải chấp nhận.
Thỉnh thoảng, paparazzi hành động quá đà để chụp được một bức ảnh. Tôi biết, có tay cố tình gây ra tai nạn giao thông với nữ diễn viên Catherine Zeta Jones, chỉ để buộc cô rời khỏi xe, để hắn có thể chụp tấm ảnh “cơn thịnh nộ trên đường” của cô. Sean Penn thì luôn bị kích động, còn các tay săn ảnh khoái chí bấm máy khoảnh khắc “giận dữ” của anh ta. Các tay săn ảnh cũng dùng “chiêu” chọc tức những người nổi tiếng, để ghi lại phản ứng của họ. Có lần, tôi trông thấy một tay săn ảnh sỉ nhục Rebecca Romijn-Stamos về việc cô tệ hại thế nào, khi bỏ người chồng cũ, cho đến lúc cô ta bật khóc, còn hắn thì chụp được một bức ảnh. Thế nhưng, một kinh nghiệm săn ảnh kỳ cục nhất mà tôi nghe được là có một tay paparazzi trốn trên tầng áp mái căn nhà bên cạnh nhà Julia Roberts 4 ngày liền, khi cô đám cưới. Thậm chí, anh ta còn trả tiền cho những đứa trẻ sống ở đó, để chúng che giấu và mua thức ăn cho anh ta. Cuối cùng, anh ta có được những tấm hình như mong muốn.
Bí quyết để trở thành một paparazzi nổi bật là nắm rõ tất cả biển số xe của các ngôi sao. Bởi vì, cửa kính xe của họ lúc nào cũng che chắn tối đen, việc phát hiện ra xe của người nổi tiếng là điều vô cùng quan trọng. Tay săn ảnh nào theo một chiếc xe như vậy thường chụp được những tấm ảnh ưng ý và kiếm được nhiều tiền. Một tấm ảnh đơn giản, chụp Ashley Olsen ở trạm đổ xăng, hay Ben Affleck ở tiệm cà phê Starbucks cũng mang về cho họ 1.000 USD.
Một cách chụp ảnh lén phổ biến khác mà các paparazzi thường áp dụng là… cắm trại bên ngoài nhà của những người nổi tiếng. Khi những ngôi sao như Nicole Kidman ở trong thành phố, chúng tôi sẽ ngồi bên ngoài nhà của cô hàng giờ, chỉ để chờ đợi một cơ hội… Một cú điện thoai gọi nhanh cho người bạn, một phút chợp mắt hay đọc lướt tờ tạp chí, có thể xem như tôi đã bỏ lỡ cơ hội. Người nổi tiếng có thể “chuồn” mất vào những lúc như vậy.
Bị biến thành “công cụ” của các ngôi sao
Xu hướng phổ biến nhất hiện nay là những tấm ảnh chụp lén “được dàn dựng” – khi một ngôi sao đồng ý cho chụp và thậm chí họ còn “duyệt qua” trước khi những bức ảnh mang đi in. Tôi biết những nghệ sĩ như Courtney Cox, Julia Roberts, Lisa Marie Presley, Nicoles Cage, Kylie và Danni Minouge từng làm như vậy.
Lý do chính là sự an toàn. Những tấm ảnh dàn dựng này nhằm tránh sự nổi giận của những tay paparazzi muốn bằng mọi cách có được những bức ảnh độc quyền và bảo vệ ngôi sao khỏi những nguy hiểm đang rình rập bên ngoài. Nếu Julia Roberts chịu cho in những tấm ảnh dàn dựng chụp cô và hai đứa con trai, cô sẽ tránh được nhiều phiền phức sau này.
Người ta có thể than vãn về những tấm ảnh chụp lén, nhưng họ vẫn mua tạp chí; còn những người làm công tác tuyên truyền cho ngôi sao thì thật sự thích thú, khi trông thấy ảnh thân chủ của họ trên đó. Điều làm chúng tôi khó chịu nhất là công chúng không nhận ra những người nổi tiếng đã sử dụng các paparazzi như thế nào để làm lợi cho họ. Người ta có thể xem chúng tôi là cặn bã, nhưng họ không hiểu rằng, các ngôi sao tiết lộ nhiều điều cho báo chí là có mục đích.
Có lần, tôi nhận được một cú điện thoại báo Lisa Marie Presley và Nicolas Cage (hiện đã ly dị) đang cần… những tấm ảnh chụp lén. Tôi được thuê đến Las Vegas, xuất hiện đúng lúc, đúng chỗ, mặc đúng bộ quần áo đã thỏa thuận để họ có thể biết rằng tôi chính là người được thuê làm việc này. Tôi nói mật khẩu: “Paparazzi mặc áo sơmi xanh” và họ làm kiểu cho tôi chụp.
Những ngôi sao khác thì cố tình đi dùng cơm ở ngoài, như vậy, họ sẽ được báo chí nói đến. Chẳng hạn như, khi có tin đồn mối quan hệ giữa Ben Affleck và J.Lo gãy đổ, họ đã đến dùng cơm tối tại nhà hàng The Ivy – nơi mà ai cũng biết là có các tay săn ảnh thường trực 24 giờ mỗi ngày/7 ngày – và làm ra vẻ họ vẫn đang hạnh phúc bên nhau. Nếu Tom Cruise có một phim mới sắp ra mắt, anh ta sẽ ra ngoài cùng các con của mình và bạn sẽ trông thấy những bức ảnh của anh trên các tờ báo. Anh ấy biết cách làm việc với các paparazzi như thế nào.
Điều ngộ nghĩnh là tôi có nhiều bạn bè địa vị cao trong xã hội những người biết rõ tôi làm gì, nhưng họ không bao giờ thắc mắc về công việc của tôi.
Có thể nói, tôi thích kiếm tiền bằng công việc này, và đây là một niềm say mê. Có rất nhiều ngôi sao được mọi người yêu thích, và cần có những tay săn ảnh cho sự quảng bá tên tuổi cũng như hình ảnh của họ”
Một trong những thứ tuyệt vời nhất về Internet là không ai thực sự sở hữu được nó. Nó là một tập hợp (collection) các mạng mang tính toàn cầu, cả lớn và nhỏ. Các mạng này kết nối với nhau theo nhiều cách khác nhau để tạo thành một thực thể đơn nhất, cái mà chúng ta vẫn được biết đến với tên gọi Internet. Trong thực tế, tên này được xuất phát từ ý tưởng của các mạng kết nối chéo (interconnected networks), được lấy từ hai chữ này mà ra.
Từ những ngày đầu tiên được thành lập vào năm 1969, Internet đã phát triển lớn mạnh từ 4 hệ thống máy tính chủ đến hàng chục triệu chiếc như vậy. Mặc dù không ai sở hữu riêng Internet nhưng nó không có nghĩa nó không cần kiểm tra và duy trì dưới nhiều hình thức khác nhau. Internet Society, một nhóm phi lợi nhuận được thành lập vào năm 1992, đã giám sát việc hình thành các chính sách và giao thức để định nghĩa cách chúng ta sẽ sử dụng và tương tác với Internet như thế nào.
Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những vấn đề cơ bản về cấu trúc của Internet. Bạn sẽ biết thêm được những vấn đề cơ bản về Hệ thống máy chủ tên miền (DNS), các điểm truy cập mạng (NAP) và các mạng xương sống. Tuy nhiên đầu tiên chúng tôi sẽ giới thiệu về cách kết nối máy tính của bạn với các máy tính khác như thế nào.
Internet: Kiến trúc mạng
Mỗi máy tính được kết nối với Internet đều được coi là một phần của mạng, thậm chí cả máy tính ở nhà của bạn. Ví dụ, bạn có thể sử dụng một modem và quay số để kết nối đến một Internet Service Provider (ISP). Ở nơi làm việc, bạn có thể là một phần nằm trong mạng nội bộ Local Area Network (LAN) của công ty, nhưng bạn vẫn có thể kết nối với Internet bằng cách sử dụng một ISP mà công ty của bạn đã ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ này. Khi kết nối với ISP của mình thì bạn sẽ trở thành một phần trong mạng của họ. ISP sau đó có thể kết nối với một mạng lớn hơn và lại trở thành một phần của mạng đó. Internet đơn giản là mạng của các mạng (network of networks).
Hầu hết các công ty truyền thông lớn đều có các mạng xương sống chuyên dụng của chính họ để kết nối giữa các vùng địa lý khác nhau. Trong mỗi vùng này, các công ty có điểm hiện diện – Point of Presence (POP). POP là một địa điểm mà những người dùng nội bộ có thể truy cập vào mạng công ty thông qua một số điện thoại nội bộ hoặc đường truyền riêng. Thứ làm kinh ngạc ở đây là không có vấn đề kiểm soát mạng mà thay vì đó là một số mạng mức cao kết nối với nhau thông qua các Network Access Point (NAP).
Khi máy tính của bạn kết nối Internet, nó đã trở thành một phần của mạng
Ví dụ về mạng Internet
Đây là một ví dụ. Hãy hình dung rằng công ty A là một ISP lớn. Trong mỗi một thành phố lớn, công ty A này đều có một POP. POP trong mỗi thành phố đều có các hệ thống đường truyền có kết nối modem để khách hành của ISP này có thể quay số tới. Công ty này lắp đặt các đường truyền bằng cáp quang từ một công ty điện thoại để kết nối các POP này với nhau.
Tiếp theo, công ty B cũng là một ISP. Công ty B xây dựng tòa nhà lớn trong các thành phố lớn và các tập đoàn nằm trên những máy chủ Internet của họ trong các tòa nhà này. Công ty B lớn đến nỗi nó có thể chạy chính các đường cáp quang của họ giữa các tòa nhà để chúng được kết nối với nhau.
Trong kịch bản này, tất cả các khách hành của công ty A có thể trao đổi với nhau và tất cả các khách hàng của công ty B cũng có thể trao đổi với nhau, nhưng vẫn chưa có cách nào để trao đổi giữa các khách hàng của hai công ty này với nhau. Chính vì vậy, Công ty A và Công ty B cùng có một thỏa thuận kết nối qua NAP trong các thành phố khác, khi đó lưu lượng giữa 2 công ty này được lưu thông giữa các mạng tại NAP.
Trong thực tế, có đến hàng tá các nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn có kết nối với nhau tại các NAP trong nhiều thành phố khác nhau, và có đến hàng tỉ tỉ byte dữ liệu được truyền đi truyền lại giữa các mạng với nhau qua các NAP này. Internet chính là một collection các mạng công ty khổng lồ đã thỏa thuận kết nối với nhau tại các NAP. Theo cách này, mỗi một máy tính nằm trong Internet đều có khả năng kết nối được với nhau.
Chức năng của Router
Tất cả những mạng này đều dựa vào các NAP, mạng xương sống và các router để truyền thông với nhau. Ở đây có một vấn đề khó tin về quá trình một thông báo có thể rời một máy tính này và di chuyển hầu như khắp thế giới thông qua các mạng khác nhau, đến được một máy tính khác trong một lượng thời gian rất ngắn (tính theo phân số của giây).
Các Router chỉ ra nơi để gửi thông tin từ một máy tính này đến máy tính khác, chúng chính là các máy tính đặc biệt dùng để gửi thông báo của bạn đến được các đích theo hàng nghìn đường khác nhau. Một router có hai vấn đề tách biệt nhưng có liên quan với nhau:
Bảo đảm thông tin không đi vào những nơi không cần thiết và cần phải có một số lượng phân vùng lớn dữ liệu để tránh cản trở các kết nối của những địa chỉ không liên quan (những địa chỉ không phải là đích đến).
Bảo đảm cho các thông tin đến được đúng đích như dự định
Trong quá trình thực thi hai công việc này, các router còn có tác dụng trong việc giao tiếp giữa hai mạng máy tính tách biệt nhau. Nó sẽ nối hai mạng này với nhau, gửi các thông tin từ mạng này sang mạng kia và ngược lại. Bảo vệ các mạng, ngăn chặn lưu lượng trên một mạng không cần thiết tràn vào một mạng khác. Không quan tâm về số lượng các mạng được gắn kèm, hoạt động và chức năng cơ bản của các router hoàn toàn giống nhau. Internet là một mạng lớn được thiết lập từ hàng chục nghìn mạng nhỏ hơn nên sự sử dụng các router là tuyệt đối cần thiết.
Mạng xương sống National Science Foundation (NSF) đã xây dựng một mạng xương sống tốc độ cao vào năm 1987. Mạng xương sống này có tên gọi NSFNET, nó là một đường trục T1 để kết nối 170 mạng nhỏ hơn với nhau và hoạt động với tốc độ 1,544 Mbps. IBM, MCI và Merit đã làm việc với NSF để tạo mạng xương sống và đã phát triển lên các hệ thống đường trục T3 (45Mbps) những năm sau đó.
Mạng xương sống điển hình là các đường trục cáp quang. Các đường trục này có nhiều cáp quang được kết hợp với nhau để tăng dung lượng. Cáp quang được thiết kế dưới các kiểu khác nhau dựa vào sóng mang quang học, chẳng hạn như OC-3, OC-12 hoặc OC-48. Đường OC-3 có khả năng truyền tải đến 155Mbps còn OC-48 có thể truyền tải 2.488 Mbps (2,488 Gbps). So với modem 56K truyền thống thì bạn có thể thấy được tốc độ của mạng xương sống nhanh hơn cỡ nào.
Ngày nay có nhiều công ty hoạt động trên các mạng xương sống dung lượng cao của chính họ, tất cả các mạng này đều kết nối với các NAP trên toàn thế giới. Theo cách này, mọi người trên Internet dù bất cứ nơi đâu, họ và những gì công ty họ sử dụng đều có khả năng truyền thông với nhau. Toàn bộ Internet là một sự thỏa thuận khổng lồ giữa các công ty để truyền thông dễ dàng.
Giao thức Internet: Địa chỉ IP
Mỗi máy tính trên mạng đều có một số nhận diện duy nhất được gọi là địa chỉ IP. IP là tên được viết tắt của Internet Protocol, đây là một ngôn ngữ mà các máy tính sử dụng nhằm mục đích truyền thông với nhau trên Internet. Một giao thức chính là cách đã được định nghĩa từ trước mà ai đó muốn sử dụng một dịch vụ để truyền thông với dịch vụ đó. “Ai đó” ở đây có thể là một người, nhưng thường nó là một chương trình máy tính như trình duyệt web chẳng hạn.
Một địa chỉ IP điển hình có dạng:
216.27.61.137
Để làm cho nó dễ dàng hơn trong việc ghi nhớ, các địa chỉ IP được trình bày theo định dạng hệ thập phân giống như trên. Tuy nhiên các máy tính lại truyền thông theo dạng nhị phân. Hệ thập phân của địa chỉ IP trên sẽ được trình bày trong dạng nhị phân khi các máy tính làm việc:
11011000.00011011.00111101.10001001
Bốn số trong một địa chỉ IP được gọi là các bộ tám (octet), vì chúng được thể hiện bằng 8 số nhị phân. Nếu sử dụng tất cả các vị trí này cùng nhau thì bạn sẽ có 32 bit, đó là lý do tại sao các địa chỉ IP được gọi là các số 32 bit. Do một trong 8 vị trí này đều có hai trạng thái khác nhau (1 và 0), nên nó có thể thể hiện được 28 hay 256 sự kết hợp. Chính vì vậy mỗi octet có thể gồm các giá trị từ 0 đến 255. Sự kết hợp của 232 này bạn sẽ có được 4.294. 967.296 giá trị.
Trong số gần 4,3 tỉ sự kết hợp này có một vài giá trị nào đó bị hạn chế trong sử dụng, nó sẽ không như một địa chỉ IP điển hình. Ví dụ như, địa chỉ 0.0.0.0 được dành riêng cho mạng mặc định và địa chỉ 255.255.255.255 được sử dụng cho quảng bá.
Các octet thực hiện một mục đích khác với việc phân chia một cách đơn giản các số. Chúng được sử dụng để tạo các lớp địa chỉ IP có thể được gán cho một doanh nghiệp, chính phủ hoặc một thực thể nào đó dựa trên kích thước và nhu cầu. Các octet được chia thành hai phần: Phần Net và phần Host. Phần Net luôn chứa octet đầu. Nó được sử dụng để phân biệt mạng mà máy tính nằm trong đó. Host (đôi khi được nói đến như một Nút – Node) để phân biệt các máy tính trong mạng với nhau. Phần Host luôn chứa các octet còn lại. Có 5 lớp IP cộng với các địa chỉ đặc biệt nào đó. Để tìm hiểu thêm về địa chỉ IP chúng tôi sẽ dành riêng một bài nào đó để chỉ cho các bạn rõ về địa chỉ IP là gì.
Giao thức Internet: Hệ thống tên miền (DNS)
Khi Internet ngay từ thủa sơ khai, nó đã xem xét đến một số lượng các máy tính nhỏ được kết nối với nhau bằng các modem và đường điện thoại. Bạn chỉ có thể tạo các kết nối bằng cách cung cấp địa chỉ IP của máy tính mà bạn muốn thiết lập một liên kết với nó. Ví dụ, một địa chỉ IP điển hình có thể là 216.27.22.162. Mọi thứ đều sẽ hoạt động tốt nếu chỉ có một vài host, tuy nhiên nó sẽ trở nên cồng kềnh và khó nhớ khi ngày càng nhiều hệ thống online.
Giải pháp đầu tiên để giải quyết vấn đề này là một file văn bản đơn giản được dùy trì bởi Network Information Center dùng để ánh xạ hóa các tên thành địa chỉ IP. Càng ngày văn bản này trở lên quá lớn trong việc quản lý. Năm 1983, Đại học Wisconsin đã tạo được Domain Name System (DNS), để ánh xạ hóa các tên văn bản thành địa chỉ IP một cách tự động. Theo cách này, bạn chỉ cần nhớ đến tên miền www.quantrimang.com thay vì phải nhớ địa chỉ IP của nó.
URL: Uniform Resource Locator
Khi bạn sử dụng Web hoặc gửi một email, bạn thường sử dụng tên miền để thực hiện điều đó. Ví dụ, Uniform Resource Locator (URL) “http://www.quantrimang.com” có chứa tên miền quantrimang.com. Mỗi lần sử dụng một tên miền, bạn sẽ dụng các máy chủ DNS của Internet để thông dịch tên miền mà con người có khả năng đọc thành các địa chỉ IP mã máy.
Các tên miền cấp 1, được gọi là tên miền mức đầu tiên bao gồm .COM, .ORG, .NET, .EDU và .GOV. Bên trong mỗi tên miền cấp 1 này lại có một danh sách lớn các miền cấp thứ hai. Ví dụ như trong miền mức đầu tiên .COM ở đây là: QuanTriMang.com
Mỗi một miền trong miền hàng đầu top-level .COM phải là duy nhất. Từ gần bên trái nhất và sau www, chính là tên host. Nó chỉ định tên của một máy nào đó (với địa chỉ IP cụ thể) trong một miền. Một miền nào đó được cho có thể gồm đến hàng triệu tên host miễn là chúng đều duy nhất bên trong miền đó.
Các máy chủ DNS chấp nhập yêu cầu từ các chương trình và máy chủ tên khác để chuyển đổi các tên miền thành địa chỉ IP. Khi một yêu cầu nào đó được đưa ra, máy chủ DNS có thể thực hiện một trong bốn thứ dưới đây:
1. Có thể trả lời yêu cầu cho một địa chỉ IP vì nó đã biết địa chỉ IP cho miền được yêu cầu.
2. Có thể liên lạc với máy chủ DNS khác và tìm ra địa chỉ IP cho tên đã được yêu cầu. Có thể phải thực hiện việc tìm kiếm này nhiều lần.
3. Nó có thể báo rằng: “Không biết địa chỉ IP cho miền mà bạn yêu cầu nhưng đây là địa chỉ IP cho một máy chủ DNS mà nó biết.”
4. Có thể trả về một thông báo lỗi vì tên miền yêu cầu không hợp lệ hay không tồn tại.
Một ví dụ về DNS
Hãy giả dụ rằng bạn đánh URL www.quantrimang.com vào trình duyệt của mình. Trình duyệt sẽ liên lạc với DNS server để lấy về địa chỉ IP. DNS server sẽ bắt đầu công việc tìm kiếm địa chỉ IP của nó bằng cách liên lạc với một trong các máy chủ DNS gốc (root DNS server). Các máy chủ gốc biết địa chỉ IP của tất cả các máy chủ DNS mà nó quản lý miền cấp 1 (COM, .NET, .ORG, …). DNS server của bạn sẽ hỏi máy chủ gốc về www.quantrimang.com, máy chủ gốc sẽ nói nó không biết địa chỉ IP cho www.quantrimang.com nhưng đây là địa chỉ IP cho máy cho DNS .COM.
Sau đó máy chủ tên miền của bạn sẽ gửi một truy vấn đến máy chủ DNS .COM yêu cầu xem nó có biết địa chỉ IP cho www.quantrimang.com hay không. Máy chủ DNS cho miền .COM biết các địa chỉ IP cho máy chủ tên miền đang quản lý miền www.quantrimang.com, vì vậy nó gửi trả về các vấn đề được yêu cầu.
Máy chủ tên miền của bạn sẽ liên hệ với máy chủ DNS về www.quantrimang.com và hỏi xem nó có biết địa chỉ IP cho www.quantrimang.com hay không. Và ở đây máy chủ DNS về www.quantrimang.com sẽ đáp trả địa chỉ IP cho máy chủ DNS của bạn, sau đó máy chủ DNS sẽ trả nó về trình duyệt, và có thể liên lạc với máy chủ về www.quantrimang.com để lấy được nội dung của trang.
Một trong những khía cạnh làm cho những thao tác trên làm việc là có rất nhiều máy chủ DNS. Rất nhiều máy chủ DNS ở các mức, chính vì vậy nếu một máy chủ DNS nào đó bị lỗi thì vẫn có nhiều máy chủ khác quản lý các yêu cầu. Khía cạnh khác là việc lưu trữ. Khi một máy chủ DNS nào đó giải quyết một yêu cầu thì sẽ lưu địa chỉ IP mà nó nhận. Khi đã tạo một yêu cầu cho máy chủ DNS gốc về miền .COM thì nó sẽ biết địa chỉ IP cho máy chủ DNS đang quản lý miền .COM, vì vậy sẽ không bị rối với các máy chủ DNS gốc về các thông tin đó. Các máy chủ DNS có thể thực hiện nhiệm vụ này với mọi yêu cầu và việc lưu trữ này cũng giúp ích khi gặp một số vấn đề xảy ra.
Máy chủ (Server) và máy khách (Client) Internet
Tất cả các máy tính trên Internet đều là máy chủ hoặc máy khách. Tuy nhiên có sự phân biệt giữa chúng. Các máy tính có khả năng cung cấp dịch vụ cho các máy tính khác được gọi là máy chủ. Còn máy tính mà được sử dụng để kết nối đến các dịch vụ đó là máy khách. Có nhiều máy chủ Web, email server, FTP server và chính vì vậy nó mới có thể phục vụ được nhiều nhu cầu của tất cả người dùng trên toàn thế giới.
Khi bạn kết nối đến www.quantrimang.com để đọc các trang thông tin, bạn sẽ là một người dùng đang dùng máy khách của mình đề truy cập vào máy chủ chứa nội dung trang này. Máy chủ tìm trang mà bạn yêu cầu và gửi nó đến cho bạn. Các máy khách truy cập vào máy chủ thực hiện như vậy với một ý định cụ thể, vì vậy các máy khách hướng yêu cầu của chúng đến một máy chủ phần mềm cụ thể đang chạy trên máy chủ. Ví dụ, nếu bạn đang chạy một trình duyệt web trên máy của mình, nó sẽ thông báo cho máy chủ Web trên máy chủ chứ không phải máy chủ email.
Một máy chủ có một địa chỉ IP tĩnh không thay đổi thường xuyên còn máy tính ở nhà của bạn khi thực hiện quay số hay ADSL qua một modem có địa chỉ IP thay đổi được gán bởi ISP mỗi lần kết nối. Địa chỉ IP đó là duy nhất với phiên làm việc hiện tại của bạn và có thể khác nhau trong những lần kết nối tiếp theo. Theo cách này, một ISP chỉ cần một địa chỉ IP cho mỗi một modem mà nó hỗ trợ chứ không phải mỗi một IP cho một khách hàng.
Các cổng và HTTP
Bất kỳ máy chủ nào cung cấp các dịch vụ có sẵn đều sử dụng các cổng có đánh số – một trong những dịch vụ có sẵn trên máy chủ. Ví dụ, nếu một máy chủ đang chạy Web server và một máy chủ giao thức truyền tải file FTP, máy chủ Web sẽ có sẵn trên cổng 80, và máy chủ FTP sẽ có sẵn trên cổng 21. Các máy khách kết nối tới dịch vụ ở một địa chỉ IP nào đó và trên một số cổng cụ thể.
Khi một client kết nối với dịch vụ trên một cổng nào đó thì nó có thể truy cập vào dịch vụ bằng cách sử dụng một giao thức nào đó. Các giao thức thường là các văn bản và đơn giản mô tả cách client và máy chủ sẽ truyền thông với nhau như thế nào. Mọi Web server trên Internet đều thích nghi với giao thức hypertext transfer protocol (HTTP).
Các mạng, router, NAP, ISP, DNS và các máy chủ khác, tất cả làm cho Internet được hiện hữu. Hoàn toàn không ngạc nhiên khi bạn nhận ra rằng tất cả các thông tin này đều được gửi khắp thế giới trong một phần mili giây. Chúng là các thành phần rất quan trọng trong đời sống hiện đại, không có chúng sẽ không hề có Internet. Và không có Internet, đời sống sẽ rất khó khăn cho chúng ta.
XRMS is a web-based application for managing business entities such as employees, customers, contacts, activities with those contacts, etc. XRMS could be classified under CRM, SFA or BI, and basically if your company needs to manage relationships with your customers and business partners, XRMS should be able to fulfill your needs.
You can use XRMS to integrate and manage your sales, service, and marketing data in a single information store. XRMS has the enterprise capabilities to become a single system of record for storing activities, files, and other interaction data with your customers, employees, partners, and prospects. And, it is easily extensible to support your own processes and procedures for interacting with and supporting your customers.
XRMS features include :
Low infrastructure requirements
Community-driven Open Source
Enterprise-friendly licensing terms
Clean data model for easy integration and migration
Configurable, integrated workflow engine
Configurable look and feel (themes)
Translations for more than 20 languages
Role-based security
Database independence
Shared calendar
Plugin architecture for seamlessly integrating add-ins
Shawn Nafziger have just launched BlogRolled, a new service to help bloggers monetize their Blogroll and make even more money. The concept is very easy, you register as a blogger and then you select one of the blogrolls available and related to your website. Place piece of code in your pages and you are done. Every month payment is made to your paypal account and you can find a detailed report on your payments.
For advertisers BlogRolled aims to help with search engine optimizations. Advertise choose from one of the available categories of publishers, and once they purchase a link it will be automatically available within 48 hours, sounds very long but you should expect great results depending on the bloggers that are sharing their blogrolls. Interesting idea to monetize blogrolls and benefit from Natural Search Benefits, User Friendly and Benchmarks.
TheDevShop Ltd today announced the release of dbQwikSite Developer Edition, a special edition of its popular website building software targeting the advanced needs of web developers and web designers.
What is dbQwikSite?dbQwikSite is a web code generator producing dynamic web pages that interact with an online database.
dbQwikSite’s advanced code generation creates all the scripts for web pages to display, search and edit online database content. Using dbQwikSite users focus on the design and flow of their web pages rather than the syntax of web scripting. To create a web site, users choose the design options that they want using an integrated page designer and wizards.
PHPDevShell is a stable, secure, fast PHP Web administration framework. It allows rapid deployment of Web based PHP applications. Robust, secure, clean, fast, including many administrative functions, the framework supports an unlimited number of users, user groups, security levels, menu tree levels, and menus.
Latest update include major feature and stability enhancements in the core, database layer, GUI, security, template engine, caching, gzipping, and navigation system, with all reported bugs fixed. PHPDevShell is available under the GNU (LGPL) Open Source License.
Sài Gòn có nhiều món ăn rất riêng, khởi thuỷ là món “nhập cư” được Sài Gòn hoá. Chúng không chỉ Sài Gòn ở khẩu vị, ở cách chế biến mà ở cả cách ăn, cách kinh doanh… Bánh mì là một trong số đó.
Ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn đã có mặt khắp nơi trong nước. Nó còn theo chân người Việt để bén rễ ở nhiều quốc gia khác.
Cửa hiệu đầu tiên
Gần ngã tư Cao Thắng – Nguyễn Đình Chiểu có một tiệm bán bánh mì nhỏ với bảng hiệu cũ kỹ, phai màu theo năm tháng. Bánh mì Hoà Mã đã tồn tại 50 năm kể từ ngày thành lập. Nhiều người khẳng định chủ nhân ở đây là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn.
Bà Nguyễn Thị Dậu, chủ nhân của hiệu bánh mì Như Lan hiện nay, cho biết ngày xưa bà rất mê bánh mì Hoà Mã. Lúc nhỏ, bà Dậu thường đến mua bánh mì ở đây và ước ao ngày nào đó mình cũng có một cửa hàng bán bánh mì như ý thích.
Sài Gòn từ trước năm 1958 đã có những cửa hiệu bán bánh của người Pháp. Họ bán bánh ngọt, bánh mì theo gu Pháp để phục vụ chủ yếu dân Tây. Bánh mì Tây là loại đặc ruột, tuỳ hình dáng mà được gọi tên (bánh mì gối là do tròn lớn như cái gối…). Và thịt nguội được bán riêng theo nhu cầu của người mua.
Năm 1954, vợ chồng ông Lê Minh Ngọc và bà Nguyễn Thị Tịnh di cư vào Nam. Trước đó, bà Tịnh đã làm cho hãng thịt nguội chuyên cung cấp sản phẩm cho các nhà hàng Pháp ở Hà Nội. Khi vào Sài Gòn, hai ông bà đã có sẵn ý tưởng mở cửa hàng bán bánh mì, thịt nguội để cung cấp cho người Việt trong khu vực. Thế là ra đời, năm 1958, cửa hàng bánh mì thịt nguội mang tên Hoà Mã (tên một làng ở ngoại ô Hà Nội) tại số 511 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu, Q.3). Sau đó hai năm, tiệm dời về số 53 Cao Thắng cho đến nay.
Ban đầu, tiệm cũng bán bánh mì riêng, thịt nguội riêng, ăn tại chỗ hoặc mang về. Nhưng người mua thường là công chức, thợ thuyền, sinh viên, học sinh không có nhiều thời gian vào buổi sáng để nhẩn nha ngồi ăn ở tiệm. Thế là Hoà Mã làm ổ bánh mì vừa đủ cho suất ăn sáng dài hơn gang tay, nhét thịt, chả lụa, pa-tê vào giữa để người mua tiện mang theo vào nơi làm việc, lớp học.
Lúc đó, tiệm Hoà Mã gọi một ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, có lẽ dùng theo từ Pháp casse-croûte, tức bữa ăn lót dạ, bữa ăn qua loa (thật ra, tên gọi đúng của bánh mì kẹp thịt là sandwich). Giá bán một ổ là 3 – 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 – 10 đồng.
Ngày xưa, các vị công chức ở vùng Bàn Cờ, cư xá Đô Thành rất thích ăn bánh mì Hoà Mã. Bà Tịnh vốn xuất thân làm thịt nguội cho hãng Tây nên vẫn giữ gu Pháp cho bánh mì Hoà Mã suốt 50 năm. Không ít người ở nước ngoài về thăm quê hương thường ghé lại Hoà Mã để thưởng thức hương vị bánh mì thịt không thể nào quên.
Hương vị bánh mì Sài Gòn
Bánh mì thịt kiểu Sài Gòn bắt đầu định được dáng vẻ, hương vị riêng của mình. Vì ổ bánh mì vừa đủ cho một khẩu phần ăn nên không cần lớn lắm, nhưng vỏ bánh phải giòn, ruột bánh đặc vừa phải để bột không quến khi nhai làm mất ngon.
Người miền Nam thường thích cái gì cũng có tí rau. Vì vậy ổ bánh mì được cho thêm vài lát dưa leo, củ cải trắng, cà rốt cắt sợi ngâm chua, thêm vài cọng hành, ngò để có hương thơm, vài khoanh ớt cay vừa ăn vừa hít hà mới khoái.
Ăn ổ bánh mì thịt có đủ mùi thơm giòn của vỏ bánh, vị ngọt của bột mì, béo của bơ, hương vị thịt, chả, pa-tê như một bản phối tròn trịa sắc màu nhưng không hề ngán bởi có rau dưa tươi mát. Và điều quan trọng của ổ bánh mì thịt Sài Gòn là ngon, rẻ, tiện lợi cho tất cả mọi tầng lớp.
Một thời gian sau, nhiều hiệu bánh mì thịt bắt đầu xuất hiện ở thành phố. Bánh mì không dừng lại ở món điểm tâm nữa, nó được dùng cả ở bữa trưa, chiều, tối.
The Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens is arguably Canon’s best value “L” Lens combining professional grade build and optical qualities.
Though solidly built, the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens is relatively light (25 oz / 705g). Actually it is very light and small compared to the much more substantial Canon EF 70-200 f/2.8 L Lens or the Canon EF 70-200 f/2.8 L IS Lens. This lens is not a burden to carry for long periods of time but has a high quality, solid feel.
At 3″ (76mm) in diameter, the 70-200 f/4 is relatively narrow for its 6.8″ (172mm) length. I more frequently use larger diameter lenses, so this is one of the 70-200 f/4’s instantly recognized features for me personally. It is not a bad thing – just different. I’m sure those with small hands appreciate this feature.
Results from the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens will make you smile when reviewing at 100% on a monitor. This lens is very sharp wide open and improves only slightly when stopped down – and primarily in the corners at the wide end of the focal length range. Very slight barrel distortion is noticeable at 70mm on a Full Frame body. Distortion disappears by around 100mm and is insignificant on a 1.3x or 1.6x FOVCF body. Vignetting is very well controlled – full frame users might notice slight vignetting in the corners at f/4. CA is very well controlled.
Images from the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens have great color and bokeh (foreground/background blur quality). The 8-blade aperture opens to a constant f/4 at all focal length ranges. This is a very nice feature as exposure settings do not require a change as the lens is zoomed through the focal lengths. F/4 is not fast and is not slow. F/4 is narrow enough to allow the smaller size and weight. F/4 is wide enough to create some background diffusion in this focal length range. F/4 is wide enough to not require bright light for handholding. However, I do not consider this a low light lens. You will likely need a flash when shooting indoors after the sun sets.
The Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens focuses very fast, very quietly and very accurately thanks to Canon’s excellent Ring USM (Ultrasonic Motor). FTM (Full Time Manual) focusing is enabled. The focus and zoom rings are very nicely sized and turn very smoothly. The 70-200 f/4 does not extend with zooming or focusing – and the front element does not rotate.
With a minimum focus distance of 3.9′ (1.2 m), the 70-200 f/4 yields a maximum magnification of .21x. This value is reasonable for flower pictures and close portraits. Adding a 12mm Extension Tube will take this figure to .28x at 200mm, but better results come from the addition of a 25mm Extension Tube – yielding a .42x magnification at 70mm.
As the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens is compatible with the Canon Extender EF 1.4x II and the Canon Extender EF 2x II, these are popular accessories for this lens. With the 1.4x, the 70-200 f/4 becomes a 98-280mm f/5.6 lens that retains excellent image quality (adding more barrel distortion and some additional CA). But, image quality starts declining more noticeably with the 2x and the resulting 140-400mm f/8 lens only autofocuses on Canon’s 1-Series bodies. This combination also results in a very dark viewfinder. The extenders increase the maximum magnification to .31x and .45x.
Filters are always popular lens accessories … The 70-200 f/4 has a somewhat-unique 67mm filter thread size. There will not be many lenses to share your 67mm filters with, but the relatively small-sized filters do not cost a fortune either.
The Canon ET-74 Lens Hood and an inexpensive lens pouch are included in the box when the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens is purchased from a reputable retailer. The Canon Tripod Mount Ring A II (W) (or the prior non-II A version), although relatively expensive, can be purchased as an accessory. The tripod collar is nice to have, but with a solid tripod/head combination it is not required.
There are MANY uses for the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens, but portrait photography is one of the best. Classic portrait focal lengths range from 85mm to 135mm effective focal lengths (field of view crop factor included). The 70-200 f/4.0L lens comes with most (or all for full frame and 1.3x body users) of those mms included. I often use even higher focal lengths for tight portraits – 200mm and/or a 1.6x FOVCF body allows for these tightly-framed shots.
Outdoor sports photography is another popular use for the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens. It is an ideal lens for young children’s soccer matches when mounted on a 1.6x FOVCF body. You might want to add a Canon Extender EF 1.4x depending on the size of the subjects and their playing field. The Canon 70-200 f4 lens is generally too slow for indoor action photography unless you can utilize an accessory flash such as the Canon 580EX Flash. Early or late outdoor action sports photography is better handled with the Canon EF 70-200 f/2.8L Lens or the Canon EF 70-200 f/2.8L IS Lens. Heavily overcast days are also a challenge for action sports photography with the 70-200 f/4L.
Need a walk-in-the-park or a beach lens? The Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens is ideal for my uses. Combining excellent image quality with relatively light weight and small size, the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens has a good focal length range for grabbing candids of the kids and family at play.
General wildlife and nature photography is area where the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens may not be ideal, but often finds use in. Depending on their size and distance, wild subjects may not frame tightly enough with the bare 70-200 focal length. But, this lens starts having some nice reach while retaining very good image quality when paired with the Canon Extender EF 1.4x II on a 1.6x body. Wary small birds and animals will likely require a longer lens alltogether.
When thinking about a landscape lens, many photographers immediately think wide angle lenses. Wide angle lenses can take in vast scenes, but the 70-200mm focal length range is a favorite of professional landscape photographers as it yields beautiful compressed landscape images. When photographing landscapes, wide apertures are generally not needed as narrower apertures are generally used for greater depth of field. When photographing landscapes, packing light makes the long hikes often required to get to the beauty easier. As some of the beauty of landscape photography is in the form of flowers and other smaller objects, the magnification ability of the 70-200 f/4 is useful for this purpose. Thus, the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens is ideally suited for landscape photography use.
Those contemplating a Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens purchase are typically considering the Canon EF 70-300mm f/4-5.6 IS USM Lens as well. Priced similarly with an extended focal length range and an excellent implementation of IS, this lens fills many of the same requirements as the 70-200 f/4. I usually recommend the 70-200 f/4 over the 70-300 IS because of its physical and optical advantages, but read the 70-300 review to find out which is better for your needs.
The Canon EF 70-200 f/2.8 L IS USM Lensis a GREAT upgrade from the 70-200 f/4 L, but only if you need f/2.8 (lets twice as much light in) and/or IS – or weather sealing (the 70-200 f/4 is not weather sealed). You will not find the IS version’s image quality to be much better – Full frame corner sharpness is better on the IS lens until the end of the focal length range where they equal out. The f/4 version performs better than the IS lens with Canon Extenders when used at the 200mm setting until both are stopped down to f/8 or so. An f/2.8 aperture will create a more diffuse background blur. The IS version carries significantly more weight and costs much more than the smaller f/4 version.
If you cannot afford a Canon EF 70-200mm f/2.8 L Lens or a Canon EF 70-200mm f/2.8 L IS Lens, the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens is for you. If you do not need your 70-200mm lens to be faster than f/4 and don’t need IS, the Canon EF 70-200mm f/4.0 L USM Lens is your lens. The 70-200 f/4 L is a great value and a highly recommended lens.