Feb 29

Bộ nhớ Cache là kiểu bộ nhớ tốc độ cao có bên trong CPU để tăng tốc độ truy cập cho dữ liệu và các chỉ lệnh được lưu trong bộ nhớ RAM. Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách làm việc của bộ nhớ này theo cách dễ hiểu nhất.

Một máy tính sẽ hoàn toàn vô dụng nếu bạn không bắt bộ vi xử lý (CPU) thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Công việc sẽ được thực hiện thông qua một chương trình, chương trình này lại gồm rất nhiều các chỉ lệnh để ra lệnh cho CPU làm việc.

CPU lấy các chương trình từ bộ nhớ RAM. Tuy nhiên có một vấn đề với bộ nhớ RAM đó là khi nguồn nuôi của nó bị cắt thì các thành phần dữ liệu được lưu trong RAM cũng sẽ bị mất – chính điều này nên một số người nói rằng bộ nhớ RAM là một môi trường “dễ bay hơi”. Các chương trình và dữ liệu như vậy phải được lưu trên môi trường không “dễ bay hơi” sau khi tắt máy tính (giống như các ổ đĩa cứng hay các thiết bị quang như đĩa CD và DVD).

Khi kích đúp vào một biểu tượng trong Windows để chạy một chương trình nào đó. Các chương trình thông thường được lưu trên ổ đĩa cứng của máy tính, khi được gọi nó sẽ được nạp vào bộ nhớ RAM sau đó từ bộ nhớ RAM, CPU nạp chương trình thông qua một mạch có tên gọi là memory controller, thành phần này được đặt bên trong chipset (north bridge chip- chíp cực bắc) trên các bộ vi xử lý Intel hoặc bên trong CPU trên các bộ vi xử lý AMD. Trong hình 1 chúng tôi đã tóm tắt sơ qua nguyên tắc làm việc này (với các bộ vi xử lý AMD bạn hãy bỏ qua phần chipset đã được vẽ).


CPU không thể tìm nạp dữ liệu trực tiếp từ các ổ đĩa cứng vì tốc độ truy suất dữ liệu của ổ đĩa cứng là quá thấp với nó, thậm chí nếu nếu bạn có cả ổ đĩa cứng với tốc độ truy suất lớn nhất. Hãy lấy một số ví dụ làm dẫn chứng cho điều này, ổ cứng SATA-300 – một loại ổ đĩa cứng có tốc độ nhanh nhất hiện đang được cung cấp ngày nay đến phần lớn người dùng – có tốc độ truyền tải theo lý thuyết là 300 MB/s. Một CPU chạy với tốc độ 2GHz với đường dữ liệu* 64-bit sẽ truyền tải dữ liệu bên trong với tốc độ 16GB/s – như vậy là lớn gấp 50 lần.

- Đường dữ liệu: Các đường giữa các mạch bên trong CPU. Chỉ cần một phép toán đơn giản bạn cũng có thể biết được rằng mỗi CPU có một số đường dữ liệu khác nhau bên trong, mỗi một đường trong chúng lại có chiều dài khác nhau. Ví dụ với các bộ vi xử lý AMD thì đường dữ liệu giữa L2 memory cache và L1 memory cache có độ rộng 128-bit, trong khi đó của Intel là 256-bit. Đây chỉ là giải thích con số mà chúng tôi đã công bố trong đoạn trên không cố định, nhưng dẫu sao CPU luôn nhanh hơn rất nhiều so với các ổ đĩa cứng.

Sự khác nhau trong tốc độ cũng bắt nguồn từ một thực tế đó là các ổ đĩa cứng còn bao gồm cả hệ thống cơ khí, các hệ thống cơ khí này bao giờ cũng chậm hơn hệ thống điện tử thuần túy, các thành phần cơ khí phải chuyển động để dữ liệu mới có thể được đọc ra (điều này chậm hơn rất nhiều so với việc chuyển động của điện tử). Hay nói cách khác, bộ nhớ RAM là 100% điện tử, có nghĩa là nó sẽ nhanh hơn tốc độ của ổ đĩa cứng và quang.

Tuy nhiên đây chính là vấn đề, thậm chí bộ nhớ RAM nhanh nhất cũng không nhanh bằng CPU. Nếu bạn sử dụng các bộ nhớ DDR2-800, chúng truyền tải dữ liệu ở tốc độ 6.400 MB/s – 12.800 MB/s nếu sử dụng chế độ hai kênh. Thậm chí con số này còn có thể lên đến 16GB/s trong ví dụ trước, vì các CPU hiện nay còn có thể tìm nạp dữ liệu từ L2 memory cache ở tốc độ 128- bit hay 256-bit, chúng ta đang nói về 32 GB/s hoặc 64 GB/s nếu CPU làm việc bên trong với tốc độ 2GHz. Bạn không nên lo lắng về những vấn đề với “L2 memory cache”, chúng tôi sẽ giải thích vấn đề này sau. Tất cả những gì bạn cần nhớ là bộ nhớ RAM chậm hơn CPU.

Bằng cách đó, tốc độ truyền tải có thể được tính bằng sử dụng công thưc dưới đây (trong tất cả các ví dụ từ đầu tới giờ, “dữ liệu trên một clock” vẫn được tính bằng “1″):

[Tốc độ truyền tải] = [Độ rộng (số lượng bít)] x [tốc độ clock] x [dữ liệu trên một clock] / 8

Vấn đề không chỉ dừng lại ở tốc độ truyền tải mà còn cả độ trễ. Độ trễ (thời gian truy cập) là lựợng thời gian mà bộ nhớ giữ chậm trong việc chuyển ngược trở lại dữ liệu mà CPU đã yêu cầu trước đó – điều này không thể thực hiện được ngay lập tức. Khi CPU yêu cầu chỉ lệnh (hoặc dữ liệu) được lưu tại một địa chỉ nào đó thì bộ nhớ sẽ giữ chậm một khoảng thời gian để phân phối lệnh này (hoặc dữ liệu) trở ngược lại. Trên các bộ nhớ hiện nay, nếu nó được dán nhãn có CL bằng 5 (CAS Latency, đây chính là độ trễ mà chúng ta đang nói đến) thì điều đó có nghĩa rằng bộ nhớ sẽ cung cấp dữ liệu đã được yêu cầu sau 5 chu kỳ clock nhớ – nghĩa là CPU sẽ phải chờ đợi.

Việc chờ đợi sẽ làm giảm hiệu suất của CPU. Nếu CPU phải đợi đến 5 chu kỳ clock để nhận được chỉ lệnh hoặc dữ liệu mà nó đã yêu cầu thì hiệu suất của nó sẽ chỉ còn 1/5 so với hiệu suất sử dụng bộ nhớ có khả năng cung cấp dữ liệu tức thời. Nói theo cách khác, khi truy cập bộ nhớ DDR2-800 với CL5 thì hiệu suất của CPU bằng với hiệu suất của CPU làm việc với bộ nhớ 160 MHz (800 MHz / 5) với khả năng cung cấp dữ liệu tức thời. Trong thế giới thực, việc giảm hiệu suất không nhiều vì các bộ nhớ làm việc dưới chế độ có tên gọi là chế độ truyền loạt (burst mode), ở nơi mà dữ liệu được tập trung lần thứ hai có thể được cung cấp một cách ngay lập tức, nếu dữ liệu này được lưu trên một địa chỉ nối tiếp nhau (thường thì chỉ lệnh của chương trình nào đó được lưu trong các địa chỉ liên tục). Điều này được diễn tả bằng công thức “x-1-1-1″ (có nghĩa “5-1-1-1″ là cho bộ nhớ dùng trong ví dụ của chúng ta), có nghĩa là dữ liệu đầu tiên được cung cấp sau 5 chu kỳ xung clock, nhưng từ dữ liệu thứ hai trở đi thì chúng được cung cấp chỉ trong một chu kỳ clock – nếu nó được lưu trên địa chỉ liên tiếp giống như những gì chúng ta đã nói.

RAM động và Ram tĩnh

Có hai kiểu bộ nhớ RAM đó là RAM động (DRAM) và RAM tĩnh (SRAM). Bộ nhớ RAM đã sử dụng trên các máy tính là loại RAM động. Kiểu RAM này, mỗi bit dữ liệu được lưu bên trong chip nhớ bằng một tụ điện nhỏ, các tụ điện này là thành phần rất nhỏ, nghĩa là có đến hàng triệu tụ điện trên một vùng diện tích mạch điện nhỏ, điều này vẫn được người ta gọi là “mật độ cao”. Các tụ điện này có thể bị mất điện áp tích tụ sau một thời gian, chính vì vậy các bộ nhớ động cần phải có quá trình nạp lại, quá trình này vẫn thường được chúng ta gọi là “làm tươi” (refresh). Trong suốt chu kỳ này dữ liệu không thể được đọc ra hoặc được ghi vào. Bộ nhớ động rẻ hơn so với bộ nhớ tĩnh và cũng tiêu thụ ít năng lượng hơn bộ nhớ tĩnh. Tuy nhiên như chúng ta đã biết, trên RAM động, dữ liệu không được cung cấp một cách sẵn sàng và nó có thể không làm việc nhanh bằng CPU.

Với bộ nhớ tĩnh, đây là kiểu bộ nhớ có thể làm việc nhanh bằng CPU, vì mỗi bit dữ liệu đều được lưu trên một mạch có tên gọi flip-flop (F-F), mỗi một F-F này lại có thể cung cấp dữ liệu với độ trễ rất nhỏ, vì các F-F không yêu cầu đến chu trình làm tươi. Vấn đề ở đây là các F-F này lại yêu cầu một số transistor, có kích thước to hơn so với một tụ điện trên RAM động. Điều này có nghĩa là trên cùng một diện tích giống nhau, nơi mà ở bộ nhớ tĩnh chỉ có một F-F tồn tại thì trên bộ nhớ động sẽ có đến hàng trăm tụ điện. Chính vì vậy các bộ nhớ tĩnh thường có mật độ thấp hơn – các chíp có dung lượng thấp hơn. Hai vấn đề khác với bộ nhớ tĩnh nữa là: nó thường đắt hơn nhiều và tiêu tốn nhiều năng lượng hơn (do đó nóng hơn) so với bộ nhớ tĩnh.

Trong bảng dưới đây, chúng tôi có tóm tắt các sự khác nhau chính giữa RAM động (DRAM) và RAM tĩnh (SRAM).

Tính năng RAM động (DRAM) RAM tĩnh (SRAM)
Mạch trữ điện Tụ điện Flip-flop
Tốc độ truyền tải Thấp hơn CPU Bằng với CPU
Độ trễ Cao Thấp
Mật độ Cao Thấp
Tiêu tốn năng lượng Thấp Cao
Giá thành Rẻ Đắt

Mặc dù Ram tĩnh có tốc độ nhanh hơn RAM động nhưng những nhược điểm của nó vẫn ngăn cản nó trở thành RAM chính.

Giải pháp đã tìm thấy để giảm sự ảnh hưởng trong việc sử dụng bộ nhớ RAM chậm hơn CPU là sử dụng một số lượng nhỏ các RAM tĩnh giữa CPU và bộ nhớ RAM. Công nghệ này được gọi là bộ nhớ Cache và ngày nay có một số lượng nhỏ bộ nhớ tĩnh này được đặt bên trong CPU.

Bộ nhớ Cache copy hầu hết các dữ liệu đã được truy cập gần đây từ bộ nhớ RAM vào bộ nhớ tĩnh và đoán dữ liệu gì CPU sẽ hỏi tiếp theo, tải chúng đến bộ nhớ tĩnh trước khi CPU yêu cầu thực sự. Mục đích là làm cho CPU có thể truy cập vào bộ nhớ Cache thay vì truy cập trực tiếp vào bộ nhớ RAM, vì nó có thể truy vấn dữ liệu từ bộ nhớ Cache một cách tức thời hoặc cũng hầu như ngay lập tức thay vì phải đợi khi truy cập vào dữ liệu được đặt trong RAM. CPU càng truy cập vào Cache nhớ thay cho RAM nhiều hơn thì hệ thống sẽ càng hoạt động nhanh hơn. Cũng theo đó, chúng ta sẽ sử dụng hoán đổi hai thuật ngữ “dữ liệu” và “chỉ lệnh” cho nhau vì những gì được lưu bên trong mỗi địa chỉ nhớ không có gì khác biệt đối với bộ nhớ.

Chúng tôi sẽ giải thích một cách chính xác cách Cache nhớ làm việc như thế nào ở phần tiếp theo của bài. Mời các bạn chờ đọc phần sau!

Văn Linh (Theo Hardwaresecrets)

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 24

Không phải là máy ảnh số tự động thì dễ dàng chỉ việc bấm nút sẽ chụp được ảnh đẹp. Đôi lúc bạn hay thắc mắc sao hình lại tối thế này, nhòe nhoẹt thế kia? Dù không phải là thợ bạn cũng cần phải biết đôi chút về nguyên lý và kỹ thuật.

Mỗi một chiếc máy ảnh đều có menu cài đặt. Trước khi thực hiện các bước cài đặt, việc đầu tiên là chọn chế độ chụp. Thông thường những loại máy đời mới dù “xịn” hay không bạn cần phải chọn kích cỡ và chất lượng ảnh. Có những loại máy dùng ký hiệu là các dấu sao, càng nhiều sao chất lượng hình càng đẹp. Còn lại các dòng máy khác hiển thị bằng chữ (S, M, L) hoặc số cỡ ảnh (pixel), số càng to sẽ cho ra tấm ảnh đẹp hơn, có thể in ảnh khổ lớn.

Chỉnh ISO: Giống như khi chụp bằng máy ảnh truyền thống, bạn phải mua phim có đội nhạy phù hợp với điều kiện ánh sáng thì với máy ảnh số cũng vậy, bạn nên để ISO (độ nhạy bắt sáng) làm sao vừa dễ chụp, vừa đẹp. Độ nhạy cao dễ dàng chụp trong điều kiện trời xẩm tối, đêm, hay trong nhà, nhưng sẽ gây hiện tượng rạn ảnh, vỡ hạt. Như vậy, bạn nên để ISO 200 cho trời nắng và 400 đối với trời u ám. Với 800 hoặc 1600 chỉ nên dùng trong trường hợp bất đắc dĩ hay về buổi đêm mà không phát đèn chớp.

Trên nút điều khiển thường có 2 tới 3 chế độ lấy ánh sáng giúp bạn chọn theo ý muốn :

Vị trí A (Aperture), không dùng đèn flash : Cố định khẩu độ, tự động tốc độ. Bảng khẩu độ trên tất cả các máy có các con số f2.8, 4, 5.6, 8, 11, 16, 22 mm. Số càng cao thì cửa điều sáng đóng càng nhỏ sẽ cho độ nét ảnh càng sâu. Chẳng hạn khi bạn chụp một hàng dài người mà máy ảnh gần người đầu tiên nhất, máy ảnh đóng f22 mm, ảnh sẽ nét rất sâu từ người đầu tiên cho đến người cuối cùng (với điều kiện ống kính không zoom tiêu cự lớn hơn 50 mm). Nếu để f4 hoặc f2.8 mm thì ảnh chỉ nét được khoảng 1 đến 2 người đầu tiên. Tùy theo các con số trên mà độ nét nông, sâu cũng như lưu lượng ánh sáng vào ảnh thay đổi. Để chế độ A này khi chụp chỉ phù hợp với nguồn sáng mạnh, khoảng 8h sáng đến 6h chiều mùa hè (không áp dụng khi chụp trong nhà). Nếu bạn cố tình để chế độ này khi chụp ảnh trong nhà hoặc trong điều kiện ánh sáng yếu, tốc độ màn trập sẽ tự động hạ xuống gây nên hiện tượng rung tay, ảnh nhòe nét trừ phi camera được đặt lên chân máy hoặc vật cứng.

Ảnh chụp trong nhà có đèn neon, không phát đèn chớp, hậu cảnh sáng đều với đối tượng chụp.

Ảnh chụp trong nhà có đèn neon, không phát đèn chớp, hậu cảnh sáng đều với đối tượng chụp.

flash

Chụp dùng Flash, hậu cảnh tối nhìn không rõ chi tiết phía sau đối tượng.

Vị trí S (Speed), không dùng flash : Cố định tốc độ, tự động khẩu độ. Chế độ này các thợ ảnh chuyên nghiệp thường ít dùng vì rất khó chụp đối với máy ảnh số có độ nhạy ánh sáng cao. Các con số tốc độ trên máy thường là từ 2″ (2giây) đến 1/2000″ (một phần 2000 giây). Để đảm bảo cho một tấm hình không bị mất nét khi chụp, ánh sáng ngoài trời không sầm sì, một người hoặc vật đang chuyển động hoặc di chuyển với tốc độ nhanh bạn nên để tốc độ từ 1/125” cho đến 1/2000” (số càng to thì tốc độ đóng mở màn trập càng nhanh, ánh sáng vào càng yếu). Không như camera du lịch, các dòng máy chuyên nghiệp tốc độ nhanh có thể lên tới 1/4000”, chậm là 32″. Tuy nhiên tốc độ càng cao, độ nét sâu của hình ảnh càng giảm.

Vị trí Auto (Automatic) : Chế độ này tự động hoàn toàn cả tốc độ lẫn khẩu độ. Trong điều kiện ánh sáng yếu, máy sẽ tự động phát đèn flash cho bạn đảm bảo một bức ảnh chuẩn sáng. Nhược điểm của chế độ này là ảnh chỉ sáng được những vị trí nào mà đèn với tới. Thông thường, những tấm ảnh dùng đèn flash, hậu cảnh bị tối trừ khi bạn chụp trong điều kiện trời thật sáng và nắng. Cái hay của chụp flash ngay cả khi có nắng là các điểm khuất của mặt người được chụp như hốc mắt, hốc mũi, vùng cổ… không bị tối. Đèn flash sẽ làm cân bằng sáng trên toàn khuôn mặt.

chup ngoai troi

Ảnh chụp ngoài trời nắng không đèn, mặt người loang lổ, hốc mắt tối.

flash nhe

Đèn flash phả nhẹ, mặt người đẹp và hài hòa hơn, mắt không bị quầng tối.

Hình ảnh được chụp từ các loại máy du lịch với đèn flash tự động có thể sẽ xấu hơn so với các thợ chuyên nghiệp bởi các đèn phát sáng tháo rời có chế độ Manual (chọn mức xả nhẹ, trung bình hoặc phát hết năng lượng). Trong bất kỳ tình trạng ánh sáng nào, các nhiếp ảnh gia sẽ dùng chế độ xả đèn hợp lý vừa đủ sáng mà lại không tối hậu cảnh, góc cạnh trên mặt hài hòa mà không bị bệt hay bị “lốp” sáng.

Vị trí M (Manual) : Chọn tốc độ, khẩu độ theo ý muốn. Để dùng được chức năng này đối với máy ảnh số ngay cả các phóng viên ảnh, thợ chuyên nghiệp cũng phải rất lúng túng khi sử dụng, có khi không ai dám dùng. Tăng một khẩu độ hay giảm một tốc độ chỉ cần chỉnh sai một con số tấm ảnh có thể thiếu sáng hoặc dư sáng đến mức tội nghiệp. Có khi phải chỉnh đổi tốc độ đến ba bốn lần mới chụp được tấm ảnh vừa sáng.

Xử lý ảnh bằng Photoshop sau khi chụp

Thông thường, sau khi chụp bằng chế độ tự động, đổ ảnh từ card vào máy tính sẽ thấy ảnh hơi tối đen. Bạn phải cần đến một chiếc máy tính có cài sẵn phần mềm Photoshop để xử lý chúng. Chỉnh sửa những tấm hình đó sao cho đẹp mỗi người một thủ thuật riêng. Sau đây là một bí quyết nhỏ cho bạn tham khảo.

Các thao tác chỉnh sửa sau khi mở một tấm hình vừa chụp :

Open\Image\Adjustment\Curves

Ở bảng Curves, bạn có thể kéo dây căng chéo sao cho vừa độ sáng ảnh hoặc đánh số vào phần “Input”, “Output”.

Image\Adjustment\Autocolor . Đây là phần tự động chỉnh màu phù hợp. Phần này thao tác xong mà bạn thấy màu xấu hơn có nghĩa là màu đã chuẩn bạn hãy bấm Ctr + Z hoãn lại.

Chưa xong, bạn cần chỉnh contrast bằng cách : Image\Adjustment\Brightness/Contrast. Kéo thanh contrast lên khoảng 10 đến 12, nếu chưa thấy ổn có thể tăng thêm chút nữa. Bạn sẽ thấy độ tương phản cao hơn, màu đẹp hơn.

Image\Adjustment\Color Balance. Phương pháp chỉnh màu dư trên ảnh. Nếu hình thiên về màu đỏ, bạn hãy tăng màu xanh hoặc giảm chính màu đó đi.

Image\Adjustment\Saturation. Ở bảng công cụ này bạn kéo thanh Saturation lên hoặc đánh một con số hợp lý mà không nhiều quá. Lúc này màu sẽ tươi hơn, rực rỡ hơn, bạn đã có một tấm ảnh tuyệt hảo.

Image\Adjustment\Selective Color. Cuối cùng bạn chỉnh những màu riêng biệt theo ý muốn. Cần triệt tiêu hay thêm màu gì click vào màu đó rồi chỉnh. Bạn sẽ được tấm hình như ý.

Hoàng Hà (Theo sohoa.net)

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 15

Tết này trời lạnh ghê quá, nhưng không khí Tết thật đầm ấm. Tết là phải lạnh, không lạnh không phải là Tết.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 15

Ce midi, nous avons déjeuné ensemble au restaurant L’etoile qui se trouve à la rue Hai Ba Trung, juste à côté du boulangerie Tous Les Jour. Je ne sais pas exactement cet resto est un RESTAURANT ou un KIOSQUE. Vraiment, je trouve que c’etait un KIOSQUE plustôt.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 15

Saint Valentin n’est pas aujourd’hui, c’etait hier. On avait le repas romantique au restaurant Japonaise qui s’appelle Nagomi, se trouve à la rue Le Thanh Ton, 1e Arr. Et saumon, c’est le specialite de cet restaurant, c’est fin, tres bon. Il est tendre, frais,…..mum, mum,…

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 13

TinyMCE, one of the popular wysiwyg Javascript web-based solution, released version 3.0 final. According to the forum post “All critical bugs and issues have now been resolved in the new 3.x branch of TinyMCE so it was time to release this it as an final/production ready version”. The Tinymce 3.0 got its core completely rewritten and optimized, and especially much smaller download size and less files to load by the browser. There is also a new API, so old code and plugins might not be compatible, you can check the new documentation at wiki.moxiecode.com for more details.

More improvements include :

  • Improved Safari support.
  • New Office 2007 skin.
  • Inline dialogs are now cleaned up and used by default.
  • More semantically correct output, more flexible and powerful serialization engine.
  • On-demand loading of TinyMCE and it’s plugins.

More information and download at http://tinymce.moxiecode.com

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 13

LivePerson announced this week an interesting integration of Live Chat statistics with Google Analytics, which will help measuring the impact of Live Chat interactions on conversion rates. Some of the new reports available thanks to this integration include :

  • Map Overlay Report: Displays volume and quality metrics of live chat interactions by geographic region
  • Search Engines Report: Reveals the sources and keywords that drive interactive chats (and resulting conversions)
  • Reverse Goal Path Report: Lists the navigation paths that lead to the most chats

Automatically included in LivePerson’s small & midsized business (SMB) products, this new, value-added feature helps customers pinpoint which keywords and marketing campaigns drive visitors to chat; measure and track the impact of these interactions on conversion rates; and develop an accurate profile of visitors who interact via chat and subsequently make an online purchase.

“Small and medium businesses want easy-to-use tools that demonstrate ROI,” said Philippe Lang, Vice President of LivePerson. “This integration with Google Analytics supplies our 6,000 SMB customers with the data they need to better understand their website visitors and act on accurate information in real time, so they can measure the success of their investments and maximize the efficiency of their marketing spend.”

Complete press release is available here.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 13

Năm 2008 sẽ hứa hẹn một năm đầy sôi động của thị trường thiết bị số, với những sản phẩm được đánh giá là “bom tấn”, như: iPhone 2, sách điện tử….. Hãy cùng tạp chí Businessweek khám phá những sản phẩm độc đáo nhất sắp ra mắt.

iPhone thế hệ 2

Đánh bại nhiều đối thủ trên thị trường điện thoại, trong đó có Palm Treo và các phiên bản chạy HĐH Microsoft Windows Mobile, iPhone đã thực sự trở thành “cơn lốc” nhờ sự đột phá về kiểu dáng và tính năng.

Trước khi CEO Steve Jobs công bố chiếc điện thoại thế hệ thứ hai của iPhone thì Apple phải có sự đồng ý của Ủy ban viễn thông liên bang FCC (Mỹ). Hy vọng, iPhone 2.0 sẽ lộ diện chậm nhất là tháng 3 tới để kịp ngày tung ra thị trường vào tháng 7 – một năm sau khi iPhone đời đầu xuất xưởng.

Chắc chắn iPhone thế hệ mới sẽ có khả năng truy cập mạng 3G tốc độ cao, kết nối Wi-Fi nhanh hơn và hệ thống GPS. Có một số tin đồn còn cho rằng Apple sắp tung ra phiên bản iPhone mini. Tuy nhiên, Apple chưa khẳng định thông tin này.

Đối thủ iPhone – BlackBerry 9000

Đối thủ lớn nhất của iPhone là BlackBerry của RIM. Phiên bản 9000 cũng sử dụng màn hình cảm ứng touchscreen, hướng tới thị trường người dùng phổ thông – là phân đoạn thị trường mà Blackberry Pearl đã rất thành công kể từ khi được trình làng hồi năm ngoái.

9000 được thiết kế với màn hình cảm ứng với kiểu dáng rất giống với iPhone. Thiết bị cũng hỗ trợ kết nối 3G và các tính năng đa phương tiện tân tiến. Đặc biệt, Blackberry 9000 series sẽ được trang bị hệ thống định vị GPS, kết nối Wi-Fi và cả tính năng push e-mail.

BlackBerry đời mời này sẽ được xuất xưởng ngay trong quý I/2008. Tuy nhiên, đây mới chỉ là tin đồ, BlackBerry chưa thông báo chính thức về dòng điện thoại này.

Thiết bị định vị kết nối Internet: Dash Express

Các thiết bị định vị (navigation), cho phép người dùng tìm đến các địa điểm khác nhau bằng công nghệ định vị toàn cầu GSP (Global Positioning System), đã rất phổ biến trong năm vừa qua. Nhưng sang năm nay, dự kiến hệ thống GPS sẽ được kết nối với Internet.

Trong tháng 2 tới, công ty Dash Navigation sẽ tung ra thị trường hệ thống định vị Dash Express, 600 USD, dành cho xe hơi. Hệ thống này sử dụng các mạng di động không day để cập nhật tình hình giao thông và load các địa chỉ, tuyến đường lên máy tính.

Sách điện tử Amazon Kindle

Nhiều người nhận xét sách điện tử Kindle vừa xấu vừa đắt nhưng trang đấu giá trực tuyến Amzon không có đủ sách để bán cho khách hàng. Toàn bộ sách được bán hết chỉ trong vòng vài ngày.

Kindle có thể lưu được 200 cuốn sách hay. Sách điện tử (e-book) này có màn hình sắc nét, dễ đọc, bàn phím QWERTY để gõ chú thích và cả một module tích hợp để chủ nhân có thể lướt web, đọc blog hay mua sách từ gian hàng của Kindle.

Giá bán: 400 USD.

Bút thông minh

Bút điện tử (smartpen) không còn mới mẻ với giới công nghệ nữa nhưng năm 2008 mới thực sự là thời điểm “thăng hoa” của công nghệ này nhờ sự đầu quân của nhiều nhà sản xuất, bên cạnh 3 hãng đi đầu là Nokia, Livescribe, Epos

Tháng 2 tới, công ty Livescribe sẽ ra mắt chiếc bút thông minh vừa có thể ghi âm được chữ viết để đọc trên máy tính vừa ghi lại được các âm thanh xung quanh. Tiện ích này sẽ rất hữu ích với các sinh viên đại học khi nghe giảng bài trên giảng đường. Bút của Epos và Nokia cũng sắp được trình làng, cho phép người dùng viết trên máy tính.

Điện thoại Video Wi-Fi

Chức năng gọi điện trên mạng Wi-Fi hiện đã được tích hợp trên Apple Touch và iPhone của Apple và cả các thiết bị của công ty Cisco Systems. Trong năm nay, khả năng này sẽ được mở rộng. Theo một tài liệu của Ủy ban viễn thông FCC, công ty công nghệ Creative Technology sẽ ra mắt thiết bị InPerson giống như một chiếc máy tính xách tay, cho phép người dùng gọi điện video conference trên mạng Internet mà không cần kết nối tới máy tính.

Hệ điều hành ĐTDĐ mở: Google Android

Những chiếc điện thoại đầu tiên sử dụng hệ điều hành mở Android của Google sẽ được tung ra thị trường vào nửa cuối năm nay – vừa kịp để cạnh tranh với iPhone thế hệ thứ hai và cả những phiên bản BlackBerry sắp tới của RIM.

Hệ điều hành miễn phí này được dự báo sẽ tạo nên những tính năng cạnh tranh cho các dòng điện thoại thông minh sắp tới. Liệu Android đã được tâng bốc quá lời?

Ổ cứng thế hệ mới: Ổ đĩa đặc SSD

Ổ cứng mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích như khả năng lưu trữ ngày càng lớn. Thế nhưng, chỉ cần chiếc laptop bị đánh rơi thì nguy cơ dữ liệu của bạn “bay theo mây gió” là hoàn toàn có thể xảy ra. Ổ đĩa đặc SSD (Solid State Driver) – có quy trình đọc và ghi thông tin bằng con chip flash – được xem như là công nghệ mới giúp bảo lưu dữ liệu máy tính. Loại ổ đĩa này cho phép máy tính khởi động nhanh hơn, phần mềm chạy nhanh và tiêu thụ ít điện năng hơn,. Ổ đĩa đặc SSD rất thích hợp dùng cho laptop, giúp nâng cao tuổi thọ pin, và có trọng lượng nhẹ hơn 25% so với máy dùng ổ cứng thông thường.

Ổ đĩa SSD đã xuất hiện trong một số laptop đời cao của Dell. Giới phân tích cho rằng, SSD sẽ trở nên phổ biến trên thị trường máy tính PC phổ thông trong năm nay.

Tuy nhiên, giá bán của những loại ổ đĩa đặc này sẽ rất cao.

(Theo Dân trí/BusinessWeek)

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 12

February 11, 2008 Wilmington, DE – Simplica® Corporation has just released the latest version (1.1.6) of its ECruiser® AJAX software. The new ECruiser® solution allows any developer with basic HTML and Java skills to build sophisticated AJAX applications in a fraction of the time compared to other techniques.

AJAX (Asynchronous JavaScript and XML) is a programming technique that allows developers to build browser-based applications with the richness and responsiveness of desktop applications. AJAX also offers a key advantage in that it runs in any modern browser using only its native capabilities (no plug-ins, no applets, etc.).

Many tools for creating AJAX applications require developers to implement a lot of low-level programming with JavaScript and XML. Simplica’s CEO, Marcus Rabil, summarizes this problem: “The dirty little secret about most AJAX solutions is they are either directly or indirectly programming the whole user interface in JavaScript, which is slow, difficult to debug, and plagued with cross-browser inconsistencies. ECruiser® lets developers build an entire application without writing a single line of JavaScript or XML. Our customers simply define their user interfaces with plain HTML and special component tags that completely encapsulate the AJAX functionality. And, the application’s business logic is written with simple Java objects, not by more complicated XML web services.”

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 12

Tactile is a new web-based PHP CRM solution developped by Senokian and currently beta testing. Tactile is built using PHP, PostgreSQL and Apache as well as Zend, Prototype with Scriptaculos, Smarty PHP, and Amazon’s S3 for storage. Designed for small businesses, Tactile CRM is an easy to use web based CRM, contact and sales management system. Free plan is available for the curious with two users, two opportunities, 250 contacts and 10 MB storage, paid plans goes from 6 UKP (~ 11.71 USD) to 75 UKP (~ 146.37 USD) and from 2Users/250MB to 100 Users/50GB.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)