Jan 28

Nhu cầu xem và tải nhạc, phim… trong nước đang trở nên khá phổ biến, nhưng số người biết đến các chương trình chia sẻ đồng đẳng (peer to peer – P2P) vẫn còn tương đối ít.

Một thành viên trên diễn đàn TTVNOL cho rằng những ai thường xuyên tìm kiếm và tải phim trên Internet mà chưa hề dùng thử các dịch vụ này thì “nên xem xét lại”.

Torrent là một giao thức chia sẻ tài nguyên qua mạng ngang hàng, đồng thời nó còn được hiểu là tên chương trình P2P do lập trình viên Bram Cohen phát triển (BitTorrent).

Với phương thức download thông thường, dữ liệu được lưu trên máy chủ và người cần khai thác sẽ kết nối hệ thống của họ tới server đó để lấy tệp tin. Càng nhiều người tải, tốc độ download sẽ càng giảm do sự giới hạn về băng thông. Các file này có dung lượng nhỏ và thường không phải “hàng độc” bởi những tác phẩm kinh điển hoặc phim mới ra mắt hiếm khi được upload toàn bộ lên web do chúng quá lớn. Người sử dụng cũng có thể tải phần mềm, game hay những bộ phim lên đến hàng gigabyte thông qua các trang lưu trữ file như RapidShare hoặc MegaUpload. Tuy nhiên, những dịch vụ này sẽ xóa file nếu lâu ngày không có người tải.

Khi đó, dịch vụ torrent sẽ là lựa chọn khôn ngoan. Đầu tiên, hệ thống sẽ tạo tệp .torrent chứa thông tin miêu tả file muốn chia sẻ như kích thước các mảnh, chiều dài khóa, chiều dài tệp… và thông tin về máy tính cung cấp bản gốc của tệp (first seeder). Sau đó, các máy khách (client) kết nối với first seeder, đồng thời liên kết chéo với nhau tạo thành một quần thể (swarm).

Tệp tin được chia làm nhiều mảnh bằng nhau, thường là 1/4 megabyte, và các client sẽ hướng trực tiếp tới seeder để nhận một mảnh bất kỳ. Lúc này, máy khách sẽ được gọi là peer. Chúng tiếp tục tải dữ liệu từ first seeder, đồng thời kết nối với những máy khác để lấy về các mảnh mà chúng chưa có. Việc thống kê và xác định mảnh đã có và chưa có của một peer được thực hiện thông qua máy theo dõi tracker (trong nhiều trường hợp, tracker cũng đóng vai trò là first seeder). Nếu máy tính đã nhận đủ các mảnh và vẫn ở trong mạng, nó sẽ trở thành seeder chia sẻ dữ liệu cho các peer còn lại. Như thế, càng nhiều người tham gia tải file cùng lúc thì tốc độ download càng được cải thiện.

Đa phần người biết đến torrent tại Việt Nam là giới công nghệ thông tin, dân nghiền phim, game… hoặc những ai muốn tìm các tài liệu khó, có dung lượng gigabyte. Skywalkervn, thành viên trên trang bittat.com, cho hay dịch vụ torrent trong nước ít phát triển do phần lớn các seeder đều ở nước ngoài, cộng với cơ sở hạ tầng mạng chưa ổn định khiến thời gian và tốc độ tải xuống bị giảm đáng kể. Việc download một tệp tin chỉ vài trăm megabyte có thể mất đến 1-2 ngày trong khi số megabyte tải lên lại không thể kiểm soát được.

Ngoài ra, nguy cơ bị lộ thông tin cá nhân và nhiễm virus cũng là điều khó tránh do hệ thống của người sử dụng kết nối đến nhiều máy tính khác. Quan trọng hơn, việc phải bật máy 24/24 giờ để tải file làm nản lòng không ít người, nhất là giới sinh viên chưa đủ khả năng trả tiền điện, Internet và thậm chí không có máy tính riêng.

Các dịch vụ chia sẻ ‘made in Vietnam’

Cũng do hầu hết các seeder ở nước ngoài, việc tìm kiếm file tiếng Việt tương đối khó khăn. Những người có nhu cầu khai thác thông tin thường phải truy cập một số diễn đàn chuyên về download với hy vọng gặp được ai đó biết nơi chứa file mình cần, chẳng hạn phim có phụ đề hoặc thuyết minh tiếng Việt. Bên cạnh đó, họ có thể tham gia một số dịch vụ torrent trong nước xuất hiện khoảng một năm trở lại đây, được biết đến nhiều nhất là Bittat.com, Bitvn.net và Vietfiles.org. Ngoài ra, công cụ thiết lập cộng đồng online Zing Chat do VinaGame cung cấp cũng sử dụng mô hình P2P, cho phép gửi và nhận file không giới hạn dung lượng.

Là torrent tracker đầu tiên của Việt Nam, Bitvn đã đánh trúng nhu cầu chia sẻ cao của những người đang phải lang thang trên các site torrent nước ngoài có tốc độ download chậm, hoặc phải đáp ứng nhiều yêu cầu khó khăn để có thể duy trì tài khoản. Nguyên tắc hoạt động của Bitvn là một thành viên sẽ đưa nội dung lên đồng thời đóng vai trò seed, sau đó kêu gọi tinh thần tự giác seed lại của những người đã tải xong. Nhưng do không có cơ chế tính ratio để duy trì (tỷ lệ upload/download) nên việc seed lại không mấy khả thi.

Trong khi đó, Bittat là site torrent do một nhóm bạn trẻ đam mê công nghệ thành lập với mục đích tạo nơi chia sẻ những nội dung độc đáo, tốc độ nhanh và ổn định, như tải một bộ phim HD-720p dung lượng 4 GB chỉ trong một buổi sáng. Tuy chỉ mới xuất hiện đầu tháng 12/2007, Bittat đang chiếm ưu thế trong các dịch vụ torrent tại Việt Nam với số thành viên hơn 4.500 người, trung bình mỗi ngày có thêm 100 thành viên mới và có khoảng 60 thành viên online tại một thời điểm. Hiện site này không có quy định nào về ratio, do đó tỷ lệ leech (chỉ tải, không chia sẻ) cao hơn nhiều tỷ lệ seed.

Hiện nay, những dịch vụ trên vẫn chưa thực sự lớn mạnh, một phần do nội dung chưa phong phú và tính cộng đồng của người dùng Việt Nam không cao, ví dụ họ không chia sẻ tệp cho người khác sau khi đã tải xong hoặc cố tình điều chỉnh giới hạn upload.

“Nhìn chung, các site về torrent trong nước còn ít và khá vắng vẻ”, một đại diện của Bittat nhận xét. “Nhưng với nhu cầu tải và lưu trữ file của cư dân mạng đang ngày một cao, song song với việc giá ổ lưu trữ giảm đáng kể và sự xuất hiện của các thiết bị media center như TVix của Dvico Hàn Quốc, cộng đồng torrent Việt Nam nói riêng và trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung sẽ phát triển mạnh thời gian tới”.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 21

Toàn bộ mục đích và tổng số đặc tính của một trang web là những nhân tố hình thành giữa việc chọn lựa máy chủ Linux và máy chủ Windows. Trong bài này chúng ta sẽ thảo luận những lợi thế của máy chủ Linux và máy chủ Window để giúp bạn lựa chọn được kiểu máy chủ phù hợp.Bạn dự định sẽ thuê một dịch vụ máy chủ để xây dựng trang web cho doanh nghiệp nhỏ, thì cần phải nắm được những kiến thức cơ bản về máy chủ mạng. Chính bạn sẽ là người đánh giá xem những đặc tính nào được yêu cầu và ngân quỹ chi ra là bao nhiêu.

Thông thường, sự lựa chọn máy chủ cho trang web phụ thuộc vào ngôn ngữ lập trình được sử dụng trên trang web. Trường hợp bạn sử dụng các ngôn ngữ lập trình như PHP, MySQL, hay Perl thì máy chủ Linux là sự chọn lựa được ưa chuộng hơn. Nhưng nếu như bạn lập trình trang web với ngôn ngữ ASP.Net thì sự lựa chọn tốt nhất là dịch vụ máy chủ Window.

Nếu bạn cần một số phương tiện tương tác như chat hay cơ sở dữ liệu có thể tìm kiếm được, thì không nên sử dụng máy chủ Linux. Ngoài ra, dịch vụ mạng nền tảng Linux sẽ không hoàn toàn tương thích được với một số công nghệ trên Window. Nếu bạn đang sử dụng bất kỳ công nghệ Window nào ví dụ như Visual Basic thì máy chủ trên nền tảng Windows là sự lựa chọn bắt buộc.

Lợi thế của máy chủ Linux

1. Linux là một sản phẩm phần mềm nguồn mở và do đó nó không cần những chi phí cao cho việc cấp giấy phép so với các hệ điều hành khác; Bạn có thể tùy thích tải xuống và sử dụng nó miễn phí.

2. Một trang web trên Linux có thể dễ dàng được chuyển đổi sang trang web trên Window một cách nhanh chóng. Đồng thời, trang web có thể dễ dàng thay đổi khi yêu cầu của người dùng tăng lên.

3. Máy chủ web Linux rất kinh tế khi mà Linux là hệ điều hành miễn phí. Thông thường chỉ mất chi phí phân phối phát sinh bởi máy chủ hoặc chủ sở hữu.

4. Khi mà các ngôn ngữ lập trình như PHP, MySQL, hay Perl… được yêu cầu trên trang web của bạn thì máy chủ Linux là giải pháp hiệu quả, đáng tin cậy và chi phí thấp nhất. Trừ phi ngôn ngữ lập trình được nạp vào nhiều, điều này sẽ không thể theo dõi được.

5. Có nhiều loại cơ sở dữ liệu chạy trên máy chủ Linux, nhưng phổ biến nhất và có lẽ được ưa chuộng nhất trong số các nhà cung cấp máy chủ web đó là mSQL, MySQL và PostgreSQL. Những cơ sở dữ liệu này có quan hệ tự nhiên, và cho phép tối ưu truyền thông trang web trên diện rộng để khai báo dữ liệu nhanh chóng.

6. Bởi vì hầu hết các nhóm máy chủ Linux được hỗ trợ bản mật hơn Windows cho nên máy chủ Linux đã trở thành sự lựa chọn phổ biến hơn đối với các nhà thiết kế web và lập trình viên.

Lợi thế của máy chủ Windows

1. Các công nghệ .Net như ASP.Net, VB.Net rất thích hợp với nền tảng này. Nếu trang web của bạn được xây dựng dựa trên công nghệ .Net của Microsoft thì sẽ phải lựa chọn một kế hoạch máy chủ Windows..

2. Nếu bạn cần một cơ sở dữ liệu lớp doanh nghiệp thì có một số đặc tính khác nhau chạy trên nền tảng Linux nhưng nếu cần sử dụng cơ sở dữ liệu MSSQL, thì máy chủ Windows là sự lựa chọn tốt nhất.

3. Cơ sở dữ liệu Access chỉ có thể thực hiện được trên máy chủ Windows (Tham khảo trang: http:// www.planethost.com.au/). Access chỉ có thể chạy trên nền tảng Windows của Microsoft và do đó nó sẽ không hiển thị trên máy chủ Linux. Nếu trang web của bạn đặc biệt cần đặc tính này thì sẽ phải lựa chọn sử dụng máy chủ Window.

4. Bạn đang sử dụng một số dịch vụ chia sẻ của Microsoft thì máy chủ Windows là sự lựa chọn đáng tin cậy.

5. Những kế hoạch Windows thường tiêu tốn nhiều chi phí bởi bản quyền bắt buộc của Microsoft.

Nhìn chung thì máy chủ Linux chiếm ít nhất 20% lợi nhuận hơn máy phục vụ Windows. Nếu bạn không cần bất kỳ đặc tính cụ thể nào cho trang web ví dụ như tìm kiếm cơ sở dữ liệu thì máy chủ Linux là giải pháp tốt nhất đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bạn.

Trường hợp bạn được yêu cầu các công nghệ đặc biệt của Microsoft, thì máy chủ Windows sẽ thuận lợi hơn với nhu cầu mà trang web cần.

Source: quantrimang.com

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 19

Đối lập lại với những gì mà rất nhiều người vẫn nghĩ, Centrino không chỉ là bộ vi xử lý cho các máy tính laptop mà còn là một nền tảng gồm tập hợp các thành phần đặc trưng của Intel như: processor, chipset, và mạng không dây. Một laptop chỉ có thể được gọi là Centrino khi nó có ba thành phần này. Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số thế hệ của Centrino và sự khác nhau giữa chúng.

4 thế hệ của nền tảng Centrino

Nền tảng đầu tiên của Centrino có tên mã là Carmel, đây là nền tảng được phát hành vào tháng 3 năm 2003 và được dựa trên công nghệ đã có trước đó từ các CPU Pentium M (với lõi Banias), Intel 855 Express chipset và Intel PRO/Wireless 2100 (802.11b) wireless network.

Vào tháng 7 năm 2004, Intel cho ra đời thế hệ thứ hai của nền tảng Centrino, nền tảng này cũng được biết đến với tên mã của nó là Sonoma. Đây là thế hệ được dựa trên công nghệ CPU Pentium M (lõi Dothan), Intel 915 Express chipset và Intel PRO/Wireless 2200 hay 2915ABG (802.11a/b/g) wireless network.

Thế hệ thứ ba của Centrino được đưa ra với các máy tính notebook với sức mạnh của việc xử lý dual-core. Thế hệ này cũng được biết đến với tên mã là Napa, là nét đặc biệt của bộ vi xử lý Core Duo (lõi Yonah) hay Core 2 Duo (lõi Merom) , Intel 945 Express chipset và Intel PRO/Wireless 3945ABG (802.11a/b/g) wireless network. Cũng có một phiên bản khác cho nền tảng “Napa” Centrino đó là dựa trên CPU Core Solo, đây là loại CPU chỉ có một lõi xử lý, giống như Pentium M. Từ thế hệ thứ ba của nó, nền tảng Centrino n đã bắt đầu với tên gọi Centrino Duo để chỉ thị rằng việc xuất hiện dual-core CPU đã được sử dụng trong nó.

Thế hệ thứ tư xuất hiện với tên mã Santa Rosa có trong hai phiên bản Centrino Duo và Centrino Pro. Sự khác biệt cơ bản giữa chúng là Centrino Pro có công nghệ quản lý từ xa dựa trên phần cứng gọi là Intel Active Management Technology (Intel AMT), công nghệ này cho phép bạn có thể nhận dạng các vấn đề và giải quyết được từ xa nếu máy tính kết nối với mạng, thậm chí nếu máy tính đang ở trong chế độ tắt (Lưu ý: máy tính phải được kết nối với mạng và được kết nối với nguồn điện).

Với phát hành Centrino “Santa Rosa” thành phần thứ tư được bổ sung thêm vào nền tảng Centrino, nột cache đĩa tích hợp bằng bộ nhớ flash để tăng hiệu suất hệ thống và tiết kiệm năng lượng tiêu thụ. Thành phần thứ tư này được gọi là Intel Turbo Memory, cũng được biết đến với công nghệ Robson, Centrino Pro và phiên bản mới của Centrino Duo được dựa trên bộ vi xử lý Core 2 Duo, Intel 965 Express chipset, Intel PRO/Wireless 4965AGN (802.11a/g/n) wireless network và công nghệ Intel Turbo Memory.

Bảng dưới đây là những gì chúng tôi tổng hợp từ các chi tiết kỹ thuật của các thế hệ Centrino:

Nền tảng

Centrino Pro

Centrino Duo

Centrino Duo

Centrino

Centrino

Centrino

Tên mã

Santa Rosa

Santa Rosa

Napa

Napa

Sonoma

Carmel

Bộ vi xử lý

Core 2 Duo

Core 2 Duo

Core Duo (Yonah)

Core 2 Duo (Meron)

Core Solo

Pentium M (Dothan)

Pentium M (Banias)

Chipset

Intel 965 Express

Intel 965 Express

Intel 945 Express

Intel 945 Express

Intel 915 Express

Intel 855

Wireless

Network Intel PRO / Wireless 4965AGN

Intel PRO / Wireless 4965AGN

Intel PRO / Wireless 3945ABG

Intel PRO / Wireless 3945ABG

Intel PRO / Wireless 2200BG
Intel PRO / Wireless 2915ABG

Intel PRO / Wireless 2100

Một số ví dụ

Như chúng tôi đã nói, máy tính laptop chỉ có thể được gọi là máy tính Centrino nếu nó có đủ cả ba thành phần (hoặc bốn) được thiết kế bởi Intel, theo bảng tóm tắt các chi tiết kỹ thuật ở trên. Nếu một máy notebook có CPU Core Duo nhưng không có Intel PRO/Wireless 3945ABG wireless network, thì nó vẫn không được gọi là Centrino.

Ở đây người dùng rất hay có sự nhầm lẫn rằng đã thừa nhận bộ vi xử lý Celeron M thuộc về nền tảng Centrino. Điều này hoàn toàn sai. Các notebook Celeron M không phải là máy tính Centrino. Ví dụ như máy tính Satellite A105-S2236 của Toshiba không phải là một laptop Centrino, tuy nhiên nó vẫn được cấu thành từ Celeron M, Radeon Xpress 200M chipset và Atheros Wireless LAN (802.11b/g). Hay nói Satellite A105-S4547 của Toshiba là một laptop Centrino vì nó có Core Duo processor, Intel 945 Express chipset và Intel PRO/Wireless 3945ABG wireless network, đây là những thành phần yêu cầu cho một notebook để nó được gọi là Centrino Duo.

Một số đại lý bán hàng đã đưa ra thuật ngữ “Celeron Centrino”. Tuy nhiên nền tảng thực sự này không tồn tại mà đó chỉ là khái niệm hoàn toàn không đúng.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 19

Có lẽ đến nay những cái tên như Core Duo đã được mọi người biết đến khá nhiều, tuy nhiên chúng tôi vẫn muốn giới thiệu để các bạn có được một số kiến thức cơ bản về phần cứng mà có lẽ đã sử dụng nhưng chưa thực sự biết hết những ưu nhược điểm của nó.

Core Duo (được biết đến với tên mã là Yonah) là CPU dual-core đầu tiên của Intel nhằm cho thị trường di động, nghĩa là bên trong nó có hai CPU hoàn thiện. Kỳ lạ ở chỗ nó cũng là bộ vi xử lý đầu tiên của Intel được chấp nhận bởi Apple Computer. Trong bài này, chúng tôi sẽ thể hiện những tính năng chính của Core Duo và Core Solo cùng với bảng các mô hình đã phát hành.

Hãy cẩn thận đừng nhầm lẫn giữa Core Duo với Core 2 Duo. Core Duo là một tên thương mại cho Pentium M processor có hai lõi xử lý và được sản xuất dưới công nghệ 65 nm, còn Core 2 Duo là tên thương mại cho bộ vi xử lý có tên mã là Merom (cho các máy laptop) hoặc Conroe (cho các máy desktop), sử dụng kiến trúc mới lõi siêu nhỏ, đây là kiến trúc tương tự như kiến trúc siêu nhỏ được sử dụng trong Pentium M nhưng có thêm nhiều tính năng được bổ sung mới.

Trong thực tế Core Duo là một bộ vi xử lý Pentium M với hai lõi và được sản xuất bằng công nghệ 65-nm (Pentium M hiện đang được sản xuất bằng công nghệ 90nm). Để có được sự am hiểu hơn về Core Duo, chúng tôi khuyên bạn nên đọc các hướng dẫn về công nghệ Dual Core và kiến trúc Inside Pentium M của Intel để từ đó có thể so sánh Core Duo với Pentium M.

Có một ưu điểm có thể thấy ngay được ở đây là mặc dù có đến hai CPU bên trong cùng một gói nhưng kích thước chân của Core Duo hầu như tương tự với Pentium M. Điều này có nghĩa rằng chi phí cho việc sản xuất Core Duo cũng tương đương như Pentium M – chip một lõi. Core Duo có đến 151,6 triệu transistor và chiếm đến một vùng diện tích 90.3 mm2, trong khi đó Pentium M có 140 triệu transistor chiếm diện tích 87.66 mm2. Ở đây bạn cần nhớ rằng Core Duo được sản xuất dưới công nghệ 65-nm trong khi đó Pentium M được sản xuất dưới công nghệ 90nm.

L2 memory cache của Core Duo là 2MB và được chia sẻ giữa hai lõi của nó (Intel gọi đó là L2 thực thi “Smart Cache”). Ví dụ trên Pentium D 840, một dual-core CPU, L2 memory cache 2 MB của nó được chia đều cho hai lõi vì vậy mỗi lõi chỉ có thể truy cập 1MB. Điều đó có nghĩa là Pentium D có hai L2 memory cache 1MB trên mỗi lõi. Trên Core Duo chỉ có một cache 2MB, cache này được chia sẻ giữa hai lõi. Cũng như vậy Core 2 Duo sử dụng kiến trúc tương tự như kiến trúc được giới thiệu trong Core Duo.

Với một cache nhớ chia sẻ, số lượng cache nhớ mà mỗi lõi sử dụng không bị cố định. Cùng với đó là 2MB cache nhớ nên một lõi này có thể sử dụng đến 1,5MB còn lõi kia sử dụng 512KB còn lại tại một thời điểm nào đó (ví dụ như vậy). Nếu trên một CPU dual-core với hai cache nhớ L2 biệt lập thì lúc này sẽ bị thiếu bộ nhớ cache vì chúng chỉ có trên mỗi lõi 1MB, chính vì vậy nó cần phải truy cập trực tiếp vào bộ nhớ chậm hơn đó là RAM để tìm nạp dữ liệu cần thiết, chính điều đó làm giảm hiệu suất của hệ thống. Trên các CPU có cache chia sẻ, mỗi lõi có thể cấu hình lại kích thước một cách đơn giản về số lượng cache nhớ mà nó đang sử dụng.

Một ưu điểm khác về cache nhớ L2 chia sẻ là nếu một lõi đã tìm nạp dữ liệu (hoặc một lệnh) và đã lưu nó trên cache L2 thì lõi kia có thể sử dụng những thông tin đó. Trong các CPU dual-core với cache tách biệt thì lõi thứ hai kia vẫn phải lặp lại quá trình mà lõi thứ nhất đã thực hiện, chính vì vậy sẽ làm giảm hiệu suất của hệ thống.

Các tính năng chính của Core Duo được liệt kê dưới đây:

* Công nghệ Dual-core
* Tên mã: Yonah
* Có đến 151,6 triệu transistor trên bề mặt diện tích là 90.3 mm2
* 32 KB cache lệnh L1 và 32 KB cache L1 dữ liệu
* 2 MB cache nhớ L2 chia sẻ giữa hai lõi
* Socket 478 hoặc 479
* Công nghệ sản xuất 65nm
* Bus mở rộng 667 MHz (166 MHz cho việc truyền tải bốn lần trên mỗi chu kỳ xung nhịp) và 533 MHz (133 MHz cho việc truyền tải bốn lần trên mỗi chu kỳ xung nhịp).
* Công nghệ ảo hóa
* Công nghệ vô hiệu hóa thực thi
* Công nghệ SpeedStep nâng cao
* Hỗ trợ tập lệnh SSE3

Các mô hình của Core Duo

Bảng dưới đây bạn sẽ thấy được tất cả các mô hình của Core Duo đã được phát hành.

Mô hình

sSpec

Internal Clock

External Clock

TDP

Điện áp

Nhiệt độ tối đa (º C)

T2700

SL9JP

2.33 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2700

SL9K4

2.33 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T2600

SL9JN

2.16 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2600

SL8VN

2.16 GHz

667 MHz

31 W

1.25V – 1.4V

100

T2600

SL8VS

2.16 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T2600

SL9K3

2.16 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2500

SL9K2

2 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2500

SL9EH

2 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2500

SL8VT

2 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2500

SL8VP

2 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2400

SL8VU

1.83 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T2400

SL9JM

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2400

SL9JZ

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

L2500

SL9JU

1.83 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

T2400

SL8VQ

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.25V – 1.4V

100

L2400

SL8VW

1.66 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

T2300

SL8VV

1.66 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T2300

SL8VR

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.25V – 1.4V

100

T2300E

SL9DM

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2300E

SL9DN

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2300E

SL9JE

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

L2400

SL9JT

1.66 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

T2300

SL9JL

1.66 GHz

667 MHz

31 W

-

100

L2300

SL9JS

1.50 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

L2300

SL8VX

1.50 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

U2500

SL99V

1.20 GHz

533 MHz

9 W

0.9375V-1.175V

100

U2400

SL99W

1.06 GHz

533 MHz

9 W

0.9375V-1.175V

100

Các mô hình của Core Solo

Core Solo là một phiên bản Core Duo nhưng chỉ có một lõi xử lý. Ngoài ra nó cũng có tất cả chi tiết kỹ thuật khác như 2 MB cache nhớ, công nghệ sản xuất 65 nm, ảo hóa, vô hiệu hóa thực thi và SpeedStep nâng cao, hỗ trợ tập lệnh SSE3 và Bus mở rộng 533 hay 667 MHz

Bảng dưới đây là tất cả các mô hình của Core Solo đã được phát hành.

Mô hình

sSpec

Internal Clock

External Clock

TDP

Điện áp

Nhiệt độ tối đa (º C)

T1400

SL92X

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T1400

SL92V

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T1400

SL9L5

1.83 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T1300

SL8W3

1.66 GHz

667 MHz

31 W

-

100

1300

SL8VY

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.25V-1.4V

100

T1300

SL9L4

1.66 GHz

667 MHz

31 W

-

100

U1400

SL8W6

1.20 GHz

533 MHz

5.5 W

0.950V-0.975V

100

U1300

SL8W7

1.06 GHz

533 MHz

5.5 W

0.950V-0.975V

100

Core Duo và Core Solo là các thành phần của nền tảng Centrino. Để bạn đọc có thể biết về nền tảng công nghệ Centrino, bạn đọc có thể tham khảo bài Nền tảng công nghệ Centrino trong các CPU.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 19

Có một số ý kiến phản đối chung đối với việc áp dụng chuyên nghiệp các PMNM. Hầu hết đều không có giá trị, hoặc không còn giá trị nữa vào năm 2007.

Không đáng tin cậy?

Các hãng tích hợp hệ thống lớn như IBM và Hewlett-Packard dựa trên PMNM để đưa ra các giải pháp cho các khách hàng của họ, và họ trả tiền cho hàng ngàn các nhà lập trình phát triển có tay nghề để làm việc trên các dự án PMNM. 81% trong số các công ty trong danh sách Fortune 500 chấp nhận việc sử dụng PMNM trong sản xuất. Việc cài đặt ban đầu các công cụ hạ tầng PMNM có hoặc không thể được chấp thuận từ trước đó. Chúng thường được cài đặt đặc biệt vì các nhà quản trị xem chúng là vận hành được và ổn định.

Tính đáng tin cậy và độ tin cậy được cải tiến bởi việc cung cấp truy cập tới mã nguồn. Rất khó khăn để giới thiệu virus Trojan horses (con ngựa thành Tơ roa) hoặc các cửa hậu trong PMNM hơn là trong các phần mềm sở hữu độc quyền. Các lỗi mã đơn giản như kiểm tra dãy bên ngoài và các lỗi tinh xảo hơn như tràn bộ nhớ đệm dễ dàng gặp phải hơn bởi hàng tá các nhà lập trình phát triển bên ngoài hơn bởi một ít các nhà lập trình phát triển bên trong.

Sự cải thiện về tốc độ thực thi thông qua việc tạo lại cũng như các sửa lỗi đơn giản trở nên nhanh hơn nhiều với PMNM hơn là với ngay cả nhà cung cấp phần mềm sở hữu độc quyền chu đáo nhất, nơi mà các nhà lập trình phát triển được cách ly khỏi những lỗi mà người sử dụng thông báo. Cuối cùng, có sự cải thiện trong tính có thể hỗ trợ được vốn thuộc về việc đọc được mã nguồn; các nhà lập trình phát triển có thể học được bằng việc đọc chính xác làm thế nào một sản phẩm nào đó làm việc và vì thế làm thế nào để thay đổi được nó. Ngược lại, những thay đổi đó có thể được chỉnh sửa bởi những nhà lập trình phát triển khác nữa về an ninh, tốc độ thực thi và những cải tiến về tính ổn định.

Hỗ trợ thương mại

Các công ty phần mềm như Red Hat có một thị trường mạnh về tích luỹ tư bản và kiếm tiền dựa hoàn toàn trên PMNM. Các công ty khác đang đầu tư vào các dự án PMNM để hỗ trợ việc kinh doanh gốc của họ; ví dụ, HP bán các máy chủ và các giải pháp lưu trữ, và những đóng góp của họ đối với Linux là rẻ hơn việc bảo hành hiện hành được yêu cầu đối với HP-UX sở hữu độc quyền của họ và các công cụ có liên quan.

Còn có các nỗ lực đầu tư vào PMNM được thay thế một cách cạnh tranh; ví dụ, những đóng góp của IBM cho các công cụ quản lý hệ thống và phát triển web được thiết kế để lấy lại doanh số từ Microsoft. Hãng đã có được thành công rực rỡ trong lịch sử khi chi phí của IBM trong các công ty cỡ vừa bởi việc thay thế các hệ thống AS/400 bằng các hệ thống dựa trên Windows..

Các nhà cung cấp PMNM đang gia tăng đầu tư rủi ro; ví dụ từ 2007 bao gồm nhà cung cấp giám sát mạng IPO là GroundWork và EMC của VMWare. Nhà cung cấp hệ quản trị cơ sở dữ liệu nguồn mở MySQL dự kiến IPO vào đầu năm 2008. Các hãng này dự kiến cho việc tạo ra doanh số và lãi từ các dịch vụ và hỗ trợ.

Những rủi ro về hỗ trợ thực sự lớn hơn các phần mềm sở hữu độc quyền. Các hãng phần mềm sở hữu độc quyền có thể đi khỏi vòng kinh doanh, đổ các tri thức bên trong của họ theo ngọn gió khi các nhà lập trình phát triển của họ tìm được chỗ thuê khác ở đâu đó.

Các sản phẩm có thể bị lãng quên vì chúng không đủ mang lại lợi nhuận, đòi hỏi các khách hàng phải sống với các rủi ro gia tăng từ việc sử dụng tiếp tục các phần mềm không được sửa đổi, hoặc giữ giá thành của việc chuyển đổi sang một hệ thống thay thế khác. Cuối cùng, các công ty phần mềm có thể bị mua bởi các đối thủ cạnh tranh, làm cho các sản phẩm có thể so sánh được bị bỏ rơi để giảm giá thành hỗ chợ của nhà cung cấp. Ngược lại, nếu PMNM là có sẵn, sẽ luôn có 2 sách lược hỗ trợ ở phương sách cuối cùng: Người sử dụng có thể tự làm các thay đổi theo yêu cầu, hoặc họ trả tiền cho ai đó để có được những thay đổi đó. Thông thường thì một trong các nhà lập trình phát triển gốc của dự án PMNM có thể được thuê trực tiếp để cung cấp các tính năng tuỳ biến với giá thành thấp nhất, dù người sử dụng không phụ thuộc vào những thu xếp như vậy.

Được dẫn dắt bởi hệ tư tưởng

PMNM thường được miêu tả là chống lại tư bản, văn hoá đong đếm, và những thứ đại loại như vậy. Những dự án PMNM ban đầu đã phản ánh gốc hàn lâm của chúng – và trong trường hợp của Internet, việc đầu tư ban đầu của Chính phủ Liên bang Mỹ. Sự tự do để đọc mã nguồn hỗ trợ sự hợp tác trong phát triển phần mềm. Giấy phép công cộng chung GNU (GPL), một giấy phép về PMNM thuở ban đầu, đòi hỏi rằng bất cứ ai làm thay đổi mã nguồn của GPL để phân phối lại sẽ làm mọi thay đổi sẵn sàng ch công chúng một cách thực sự.

Giấy phép không bí mật này ít nhất đã là một phần của một bản tuyên ngôn: Sức mạnh chính trị thông qua sự giải phóng các tư tưởng và sự từ chối đối với bản quyền theo cách truyền thống. Và một vài môn đồ được thúc đẩy bởi tâm trạng vỡ mộng với các công ty phần mềm giàu có, mạnh và lớn – đặc biệt là Microsoft và Oracle. Nhưng những người thực thụ tạo ra phần mềm đã chọn để sử dụng GPL để dẫn dắt việc áp dụng rộng rãi và nhanh chóng hơn các công việc của họ, như với Linux những năm gần đây và Java vào cuối năm 2006. Bây giờ có các công ty phần mềm phân phối các PMNM như phần cơ bản trong mô hình kinh doanh của họ, doanh số và lợi nhuận bắt nguồn từ các dịch vụ bổ sung hơn là bản thân phần mềm. Có những người sử dụng thích PMNM hơn vì những nguyên nhân giáo điều, nhưng hầu hết những người sử dụng có những quan tâm thực dụng hơn: giá thành, tính ổn định, tính mềm dẻo và tính có thể bảo hành bảo trì được.

Các rủi ro về pháp lý

Vấn đề pháp lý tiềm tàng của việc áp dụng PMNM trong chính phủ đã nổi lên như một mối quan tâm. Các giấy phép PMNM khác nhau về cấu trúc, và chỉ có mã nguồn công cộng là đảm bảo cho người sử dụng các quyền không hạn chế. Một triển khai cụ thể nào đó có thể chứa hàng tá các thành phần phần mềm, và mỗi thành phần có thể có những điều khoản về giấy phép khác nhau. Một vài thành phần của các bên thứ ba có thể được triển khai đối nghịch với các điều khoản của giấy phép, hoặc có thể đơn giản là hoàn toàn không được trao giấy phép cho việc phân tán.

Việc xem xét về mặt pháp lý các giấy phép phần mềm được yêu cầu như một vấn đề về chính sách của Chính phủ, liệu có mở nguồn hay không. Cũng có những rủi ro về pháp lý với các phần mềm sở hữu độc quyền, liệu bản quyền hay các bằng sáng chế có bị vi phạm hay không.

Ví dụ, Alcatel/Lucent đã được thưởng 1.25 tỷ USD vào tháng 02/2007 khi một toà án tại Mỹ tuyên Microsoft có trách nhiệm pháp lý trong việc vi phạm các bằng sáng chế của về công nghệ nén MP3. (Nếu thuật toán nén MP3 là PMNM, liệu Microsoft có bị tuyên bị phạt hay không). PMNM làm giảm tính có thể đúng của việc vi phạm bản quyền vì mã nguồn là có thể nhìn thấy được, nhưng nó cũng làm phức tạp hoá việc xem xét pháp lý vì có nhiều các giấy phép tồn tại. (Ví dụ, Linux là một phiên bản của GPL, nhưng Apache là một phiên bản của BSD, và các phần cắm thêm của Apache có thể có những điều khoản giấy phép khác).

Hàng trăm trường hợp vi phạm bản quyền và bằng sáng chế đã được thu thập bởi các công ty phần mềm chống lại nhau về PMNM, trước tiên là dựa trên các khiếu nại rằng bảo vệ sở hữu trí tuệ tạo ra cách không có quyền trong một sản phẩm PMNM. Không có trường hợp nào trong đó có liên quan tới người sử dụng các ứng dụng theo yêu cầu, nên tầm quan trọng của rủi ro pháp lý này đối với Bộ là thấp. Các đối thủ cạnh tranh cũng đã làm ra các thoả thuận pháp lý rõ ràng không kiện nhau để hợp tác được trong các dự án PMNM và tránh các vụ kiện như vậy; ngay cả các đối thủ cạnh tranh như Microsoft và Novell đã làm một thoả thuận như vậy vào cuối năm 2006 để cung cấp việc đảm bảo hỗ trợ cho các khách hàng của họ, rất nhiều trong số đó phụ thuộc vào sự thành công tiếp tục của cả 2 công ty.

Giao diện người sử dụng nghèo nàn

Về lịch sử, các giao diện người sử dụng khó học và khó sử dụng. Cộng đồng người sử dụng về hạ tầng và các công cụ phát triển đặt ưu tiên cao cho chức năng nhưng ưu tiên thấp về tính có thể sử dụng được. Nhận thức này được đưa ra cho những người đóng góp, việc bổ sung thêm chức năng mới đã cao hơn so với nhận thức được đưa ra để làm cho giao diện người sử dụng trơn tru hoặc dễ dàng học hơn. Ngoại trừ như trình duyệt web của Netscape ban đầu là các sản phẩm thương mại, sở hữu độc quyền.

Hiện tại, việc quan trọng hơn được đặt vào chất lượng của giao diện người sử dụng vì chúng đưa ra những ưu thế cạnh tranh đối với các sản phẩm với giao diện người sử dụng nghèo nàn. Trình duyệt Firefox đã đạt được thành công mang tính sống còn và một tỷ lệ áp dụng toàn cầu là 18% trong năm 2006 bằng việc đưa ra kinh nghiệm người sử dụng có chất lượng. (Đối thủ cạnh tranh chính của nó, Internet Explorer, không bắt người sử dụng trả gì cả và không đòi hỏi cài đặt, làm cho con số 18% đó rất ấn tượng). Phát tán Linux Ubuntu đã đạt được sự áp dụng nhanh chóng vì nó dễ dàng hơn đối với những người sử dụng có ít kỹ năng về kỹ thuật để cài đặt, học và sử dụng hơn các phát tán khác. Trình soạn thảo đồ hoạ PMNM GIMP đưa ra sức mạnh và sự dễ dàng sử dụng mà nó là cạnh tranh với các giải pháp thay thế thương mại sở hữu độc quyền, cũng như vậy đối với công cụ phát triển đồ hoạ Java Eclipse. Trước đó, việc áp dụng PMNM bị hạn chế đối với những người sử dụng hiểu biết kỹ thuật tinh vi, những người có thể tuỳ biến kinh nghiệm còn nghèo nàn của người sử dụng, nhưng bây giờ PMNM có tới được những người sử dụng mà họ không thể có sự kiên nhẫn như vậy.

Source: quantrimang.com

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 19

Phần mềm nguồn mở chiếm ưu thế trong hạ tầng công nghệ thông tin đã nhiều năm. GNU/Linux và những ích lợi các loại của BSD Unix đã thống trị Internet, Perl và PHP là các ngôn ngữ phát triển chiếm ưu thế của WWW, và Apache thực sự đã mở rộng thị phần 80% sớm của mình giữa các máy chủ web… Tất cả các sản phẩm này đều là phần mềm nguồn mở.

Việc phát triển phần mềm đã thay đổi. Mô hình cũ đem đến thành công của một công ty về phát triển phần mềm: Phát triển các sản phẩm sở hữu độc quyền, tập trung mọi nguồn lực kỹ thuật cho việc bổ sung thêm các tính năng, thuê một số lượng lực lượng lao động lớn… đang chuyển sang mô hình phần mềm nguồn mở.

Thông qua việc tung ra nguồn của sản phẩm một cách tự do, và chuẩn bị đủ các tài liệu kỹ thuật, những khách hàng tiềm năng có thể dùng thử được. Doanh số tích luỹ ở các hãng là thông qua việc cung cấp những cải tiến kỹ thuật cho khách hàng và qua việc cung cấp hỗ trợ ở mức chuyên nghiệp. Hãng hỗ trợ đó có hoặc không thể giống y hệt như hãng đã đóng góp mã nguồn ban đầu, nên các khách hàng không bị khoá trói, như họ đã từng bị theo mô hình phần mềm sở hữu độc quyền. Ví dụ, việc hỗ trợ máy chủ ứng dụng nguồn mở Tomcat được đưa ra cho Bộ (Tư pháp) bởi các hãng phần mềm như BEA, Novell, Covalent và Red Hat.

Năm 2006 được gọi là “Năm Nguồn mở”, khi việc áp dụng PMNM gia tăng một cách rộng rãi ngoài việc sử dụng theo truyền thống trong hạ tầng công nghệ để thay thế các sản phẩm sở hữu độc quyền về cơ sở dữ liệu, quản trị nội dung và quản lý khách hàng CRM (Customer Relationship Management).

Việc áp dụng PMNM trong chính phủ hiện nay rất tích cực trên thế giới. Khi các hệ thống sở hữu độc quyền và đặt trước đạt tới tận cùng vòng đời hữu dụng của các sản phẩm, thì cơ hội hiện nay tồn tại cho việc thay thế chúng với tổ hợp các PMNM hơn là tung ra các qui trình mới của RFP cho các giải pháp đóng và độc quyền. Chính phủ Nam Phi gần đây áp dụng PMNM, trong trường hợp đối với tất cả các phần mềm và chuyển đổi các phần mềm hiện hành.

Bộ Tư pháp Nam Phi cần một chiến lược rõ ràng để áp dụng và sử dụng PMNM. Các nhà cung cấp của chúng ta đang chuyển sang PMNM mà không cần có sự khuyến khích hay thoả thuận của chúng ta; Java là ngôn ngữ phát triển hàng đầu và cũng là PMNM.

Weblogic là một nhà cung cấp công nghệ thông tin chính hiện đang pha trộn PMNM vào các sản phẩm của họ, và tường lửa vòng ngoài của Check Point chạy một hệ điều hành PMNM.

PMNM là phần mềm được phân phối tới mọi người cùng với mã nguồn của nó, cho phép bất kỳ ai sử dụng phần mềm đó, phân phối lại nó, và thay đổi chức năng của nó như mong muốn. Thường thì, PMNM được gọi là phần mềm “tự do”, nhưng hầu hết các PMNM vẫn giữ bản quyền (copyright) và tồn tại để phục vụ cho các mục tiêu thương mại như các cải tiến tuỳ biến, đào tạo, và hỗ trợ. Vì thế tất cả các PMNM là ‘tự do để sử dụng’, nhưng chỉ có một số PMNM là ở dạng ‘uống bia miễn phí’. PMNM đối nghịch với phần mềm sở hữu độc quyền, mà nó được phân phối chỉ với các mã nhị phân có thể chạy được. Phần mềm sở hữu độc quyền là ‘đóng’ trong một ý nghĩa rộng lớn mà nó không có mã nguồn đi theo; những thay đổi về tính năng, những cải tiến, và các sửa lỗi tất cả đều xảy ra theo sự kiểm soát của người giữa mã nguồn hơn là của người sử dụng. Các khách hàng còn bị khoá trói vào việc phải dựa vào các nhà cung cấp phần mềm sở hữu độc quyền trong hỗ trợ các sản phẩm của nó một cách tương xứng.

Các tiêu chuẩn mở là các tiêu chuẩn kỹ thuật mà chúng được nhìn thấy một cách công cộng và có thể triển khai được bởi bất kỳ ai với các kỹ năng và nguồn lực cần thiết. Hoàn toàn có thể có các phần mềm sở hữu độc quyền hỗ trợ các tiêu chuẩn mở; ví dụ, PDF được tung ra như một tiêu chuẩn tài liệu mở bởi Adobe, nhưng Adobe Acrobat Reader là phần mềm sở hữu độc quyền. Một số nhà phân tích sẽ chỉ sử dụng khái niệm ‘chuẩn mở’ khi có ít nhất một triển khai PMNM của tiêu chuẩn đó tồn tại, nhưng sự phân biệt đó là không cần thiết từ quan điểm của Bộ Tư pháp.

Các tiêu chuẩn công nghiệp là các tiêu chuẩn kỹ thuật mà chúng được áp dụng bởi thực tế theo đặc thù của nền công nghiệp. Từ năm 2007, hầu hết các phần mềm tiêu chuẩn của nền công nghiệp là sở hữu độc quyền, ngay cả khi các giải pháp PMNM tồn tại. Điều này là đặc biệt đúng trong các môi trường của người sử dụng đầu cuối, với bộ phần mềm Microsoft Office và với các hệ thống thông điệp (GroupWise, Exchange, .v.v.). Một gói phần mềm tiêu chuẩn công nghiệp có thể là mở (như Eclipse IDE cho việc phát triển Java) hoặc đóng (như EndNote cho công việc lập chỉ mục thư viện nghiên cứu).

Source:quantrimang.com

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 18

Các bộ vi xử lý nền tảng kiến trúc AMD64 – như Athlon 64, Athlon 64 X2, Athlon 64 FX, Opteron, Sempron và Phenom – có hai bus ngoài. Một được sử dụng cho việc truyền thông giữa CPU và bộ nhớ được gọi là “memory bus”, bus kia được sử dụng cho việc truyền thông giữa CPU và tất cả các thành phần khác của máy tính thông qua chipset của bo mạch chủ và được gọi là HyperTransport – I/O (Input/Output) bus. Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách HyperTransport bus làm việc và nêu ra một số lỗi mà người dùng thường hiểu nhầm đối với bus này.

Đối với tất cả các bộ vi xử lý khác – gồm có bộ vi xử lý AMD không dựa trên kiến trúc AMD64 (như các bộ vi xử lý Athlon, Athlon XP và Sempron socket 462) – CPU này chỉ có một bus ngoài, chúng cũng được biết đến như front side bus (FSB). Đối với phương pháp này, bus ngoài chịu trách nhiệm cho cả việc truyền thông I/O và bộ nhớ.

Về mặt lý thuyết, kiến trúc được sử dụng cho các bộ vi xử lý AMD64 tốt hơn, theo lý thuyết, chúng có thể truyền thông với bộ nhớ và với các thành phần máy tính khác (như video card) tại cùng một thời điểm, điều không thể đối với các bộ vi xử lý khác chỉ có một đường dữ liệu bên ngoài.

Trên hình 1 bạn có thể xem cách một bộ vi xử lý AMD64 truyền thông với thế giới bên ngoài thế nào. Chip “bridge” là chipset của bo mạch chủ. Phụ thuộc vào chipset bạn có thể có một hoặc hai chip. Đối với các giải pháp 2 chip, tất cả thiết bị ngoại vi (như ổ đĩa cứng, các card bổ sung, sound card,…) đều được kết nối đến chip thứ hai (chip thứ hai này được gọi là cầu nối phía Nam, không hiển thị trong hình 1), trong khi các giải pháp đơn chip, mọi thứ đều được kết nối đến chip đơn này.


Hình 1: Vị trí của HyperTransport bus trên bộ vi xử lý AMD64. Nguồn: Hardwaresecrets

Các CPU AMD dành cho các máy chủ – ví dụ như bộ vi xử lý Opteron – có thể có một, hai hoặc 3 HyperTransport bus, phụ thuộc vào từng mô hình. Các bus mở rộng này được sử dụng để kết nối với một số CPU để cho phép chúng có thể trao đổi với nhau, nghĩa là được sử dụng trên các máy chủ có nhiều CPU trên bo mạch chủ. Các CPU của máy desktop và notebook không hỗ trợ kiểu cấu hình này vì chỉ có một HyperTransport bus trên chúng.

Trong bài này chúng ta có nhắc nhiều đến kiến trúc AMD64 nhưng sẽ không giới thiệu sâu về kiến trúc này, mà sẽ dành riêng một bài khác để có thể giới thiệu được chi tiết hơn.

Bên cạnh việc cung cấp các bộ vi xử lý AMD64 với các đường dữ liệu riêng biệt cho bộ nhớ và I/O, HyperTransport còn có những ưu điểm khác: nó cung cấp các liên kết riêng cho các hoạt động vào, ra của CPU, cho phép CPU có thể gửi (ghi) và nhận (đọc) dữ liệu I/O tại cùng một thời điểm (nghĩa là song song). Đối với kiến trúc truyền thống sử dụng bus ngoài đơn thì bus được sử dụng cho cả hoạt động vào và ra nên việc đọc và ghi không thể được thực hiện đồng thời.


Hình 2: HyperTransport bus cung cấp các đường dữ liệu vào/ra riêng biệt. Nguồn: Hardwaresecrets

HyperTransport 1.x

HyperTransport bus có thể hoạt động dưới một vài cấu hình clock và độ rộng (nghĩa là số bit được truyền mỗi lần). Đây có thể là vấn đề gây ra nhiều hiểu sai và lỗi về HyperTransport.

HyperTransport là một bus được tạo bởi sự cộng tác sản xuất của một vài nhà máy, bao gồm AMD, nVidia và Apple. Bus này có thể được sử dụng trên một số ứng dụng và nó không bị hạn chế đối với các bộ vi xử lý của AMD.

Điều đó có nghĩa rằng cấu hình thực của HyperTransport bus sẽ phụ thuộc vào các chuyên gia phát triển phần cứng.

Một số chuyên gia phát triển tuyên bố về tốc độ truyền tải một cách quá mức của HyperTransport bus mà họ đang sử dụng.

Các bộ vi xử lý AMD64 hiện hành sử dụng HyperTransport 1 (HT1) hay HyperTransport 2 (HT2), và các bộ vi xử lý AMD sắp tới sử dụng HyperTransport 3 (HT3). Trong tất cả các trường hợp này, bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit, thậm chí HyperTransport còn cho phép sử dụng các liên kết 32bit.

HyperTransport 1 được sử dụng trên tất cả các socket 754 và socket AM2 Sempron (các bộ vi xử lý AM2 sử dụng HyperTransport 2.0).

Đây là một phân tích thống kê về tất cả các tốc độ truyền tải và clock có thể đối với HyperTransport 1.x (nghĩa là được cung cấp trên socket 754):

*
200 MHz = 400 MT/s = 800 MB/s
*
400 MHz = 800 MT/s = 1.600 MB/s
*
600 MHz = 1.200 MT/s = 2.400 MB/s
*
800 MHz = 1.600 MT/s = 3.200 MB/s

HyperTransport truyền tải 2 dữ liệu trên mỗi một chu kỳ clock, khái niệm đã được biết đến như DDR, tốc độ dữ liệu kép. Công thức để tìm ra tốc độ truyền tải lớn nhất theo lý thuyết là:

Tốc độ truyền tải = độ rộng xung (số bit) x clock x số đơn vị dữ liệu trên mỗi chu kỳ/ 8.

Như vậy với các bộ vi xử lý socket 754, HyperTransport bus có thể làm việc đến 800 MHz hay 3.200 MB/s.

- Nói tốc độ clock được sử dụng bởi HyperTransport 1.x là 1.600 MHz bởi vì mỗi một chu kỳ clock hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được tương đương với tốc độ clock 1.600 MHz chỉ truyền tải một dữ liệu trên chu kỳ clock. Cuối cùng tốc độ truyền tải sẽ như nhau, như công thức ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock”, nó sẽ sử dụng là “1”. Điều này cũng xảy ra tương tự với DDR và các bộ nhớ mới hơn có tốc độ clock tuyên bố là gấp đôi tốc độ clock thực (nghĩa là các bộ nhớ DDR2-800 làm việc thực tế là 400MHz nhưng truyền tải hai dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock).

- AMD nói rằng tốc độ clock là 1.600MT/s. MT/s là viết tắt của cụm Mega Transfers per Second hay hàng triệu truyền tải trong một giây. Đây mới là đúng cách để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên giây bằng tốc độ clock nhân với số lần dữ liệu truyền tải trên mỗi chu kỳ.

Nói rằng tốc độ truyền tải lớn nhất của HyperTransport 1.x là 6.400 MB/s. Điều đó là bởi vì tốc độ truyền tải đã được tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (nghĩa là 3.200MB/s cho đường dẫn đầu vào và 3.200MB/s cho đường dẫn đầu ra), chính vì vậy một số người đã đơn giản hóa bằng cách nhân tốc độ truyền tải lên hai để dùng chung cho cả hai đường dữ liệu. Chúng tôi không đồng ý với ý tưởng này vì nói như thể cũng giống như nói rằng tốc độ tối đa của một đường cao tốc nào đó là 130Km/h thì mỗi một chiều chỉ có 65Km/h, điều này quả thực rất dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác nói rằng bus ngoài hoặc FSB của Athlon 64 (hoặc các CPU dựa trên AMD64 nào đó) là 16.00MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Bạn cũng cần biết một điều rằng các bộ vi xử lý AMD có thể làm việc với một tốc độ clock dưới tốc độ đã tuyên bố 1.600 MT/s (800 MHz). Thực tế rằng chúng có thể làm việc ở bất kỳ tốc độ nào trong danh sách đã công bố ở trên.

Chipset có thể nhận ra tốc độ clock thấp hơn với CPU và thậm chí một bước 8bit thay vì 16bit. Trong thực tế, khi các chipset Athlon 64 đầu tiên mới ra đời, VIA đã tuyên bố rằng chipset của họ cho Athlon 64, K8T800 có nhiều ưu điểm hơn để cạnh trạnh với HyperTransport bus ở tốc độ 1.600MT/s khi không làm việc ở tốc độ truyền tải cực đại.

Tại website chính thức của HyperTransport, bạn sẽ thấy rằng họ tuyên bố tốc độ truyền tải lớn nhất là 12,8 GB/s đối với HyperTransport 1.x. Tốc độ truyền tải lớn nhất này được thực hiện bằng cách sử dụng các liên kết 32bit – vì các bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit. Nếu làm một phép toán bạn sẽ nhận được kết quả 6.400 MB/s (32 bits x 800 MHz x 2 / 8). Đây là một sự hợp tác gấp đôi tốc độ lớn nhất chỉ vì có hai đường dữ liệu được cung cấp (một cho phát và một cho nhận). Như chúng tôi đã nói trước, chúng tôi không đồng ý với quan niệm tính toán tốc độ truyền tải như vậy.

HyperTransport 2.0

HyperTransport 2.0 bổ sung thêm một số tốc độ clock mới – tốc độ truyên tải mới và tính năng mới, bản đồ hóa PCI Express, đây là tính năng sẽ giúp giao tiếp giữa HyperTransport và PCI Express – hay nói theo cách khác, làm cho nó dễ dàng hơn đối với các CPU khi giao tiếp với thiết bị PCI Express.

Tốc độ truyền tải và clock mới giới thiệu trong HyperTransport 2.0 được cho dưới đây, thừa nhận các liên kết 16bit (là cấu hình được sử dụng bởi bộ vi xử lý AMD):

*
1.000 MHz = 2.000 MT/s = 4.000 MB/s
*
1.200 MHz = 2.400 MT/s = 4.800 MB/s
*
1.400 MHz = 2.800 MT/s = 5.600 MB/s

Các thiết bị HyperTransport 2.0 cũng có thể làm việc với tốc độ truyền tải của HyperTransport 1.x.

AMD sử dụng HyperTransport 2.0 trên tất cả các CPU AMD64 sockets 939 và AM2 (ngoại trừ trên các CPU Sempron, CPU sử dụng HyperTransport 1.0), mặc dù vậy chỉ hỗ trợ tốc độ HT2 thấp hơn – trong thực tế AMD được quan tâm đến nhiều hơn trong tính năng bản đồ hóa PCI Express so với mặt tốc độ truyền tải cao. Tuy vậy các bộ vi xử lý này dựa trên tốc độ truyền tải lớn nhất của các liên kết HT2 là 4.000 MB/s

Để làm cho một số thứ bớt lộn xộn, AMD sử dụng lại vài lần tên “HT1” để miêu tả HyperTransport bus của CPU có các liên kết HyperTransport của họ đang làm việc ở tốc độ 1.000 MHz. Điều này có thể tránh người dùng thừa nhận rằng chỉ các phần của HT2 mới có thể làm việc đến tốc độ 1.400 MHz (5.600 MB/s).

Một số người cho rằng liên kết 1.000 MHz/4.000 MB/s HyperTransport này được sử dụng bởi các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 với:

- 2.000 MHz. Điều này có lẽ là vì trên mỗi một chu kỳ clock có hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được sẽ bằng với tốc độ clock 2.000MHz đang được truyền tải chỉ một dữ liệu trên chu kỳ. Kết quả cuối cùng đều như nhau, như công thức được thể hiện ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên số chu kỳ clock” thì lúc này là “1”. Điều tương tự cũng xảy ra đối với DDR và các bộ nhớ sau này.

- 2.000 MT/s. Đây là tốc độ truyền tải chính thức của AMD. Tên viết tắt của thuật ngữ này đã được giới thiệu trong phần trên. Đây là cách đúng đắn để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên mỗi giây bằng số tốc độ clock nhân với số lượng dữ liệu được truyền tải trên mỗi chu kỳ.

- 8.000 MB/s. Điều này xảy ra vì tốc độ truyền tải đã tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (có nghĩa là 4.000 MB/s cho mỗi đường dữ liệu vào ra riêng biệt). Phần này cũng như phần trước mà chúng tôi đã đề cập, và chúng tôi cũng đã bày tỏ quan điểm không đồng ý với quan niệm này, quan niệm dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác là nói rằng bus ngoài hay FSB (Front Side Bus) của Athlon 64 (hay của bất kỳ CPU dựa trên AMD64 nào) là 2.000MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Cũng giống như HyperTransport 1.x bạn cần phải lưu ý rằng các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 có thể làm việc với bất kỳ tốc độ clock nào dưới 1.000 MHz.

Một lần nữa các giá trị chính thức cho HyperTransport 2.0 lại được thổi phồng lên như trong một tuyên bố rằng chúng sử dụng các liên kết 32bit và nhân 2 vì có hai liên kết được cung cấp (một cho phát và một cho nhận dữ liệu). Và cũng vậy, chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm này.

HyperTransport 3.0

Bên cạnh việc bổ sung thêm tốc độ clock – tốc độ truyền tải mới – HyperTransport 3.0 còn có một số tính năng mới hơn so với HyperTransport 2.0, như chế độ hoạt động AC, Link Splitting, Hot Plugging và Dynamic Link Clock/Width Adjustment. Các bộ vi xử lý AMD sắp tới như Phenom, sẽ sử dụng phiên bản HyperTransport bus mới này.

HyperTransport 3.0 sẽ được sử dụng trên các CPU socket AM2+ và 1207+.

HyperTransport 3.0 có thêm các tốc độ clock mới, vẫn giữ tương thích với HT1 và HT2:

*
1.800 MHz = 3.600 MT/s = 7.200 MB/s
*
2.000 MHz = 4.000 MT/s = 8.000 MB/s
*
2.400 MHz = 4.800 MT/s = 9.600 MB/s
*
2.600 MHz = 5.200 MT/s = 10.400 MB/s

AMD tuyên bố rằng các CPU sắp tới của họ sẽ hỗ trợ tốc độ truyền HT3 lớn nhất – 10.400 MB/s – AMD gọi là 5,2 GT/s, nghĩa là hàng tỉ truyền tải trong một giây. Tuy vậy chúng tôi vẫn cho rằng các CPU đó sẽ vẫn chỉ tương thích với tốc độ thấp hơn. Điều này là vì có hai thứ. Đầu tiên là các CPU nền tảng HT3 mới có thể được cài đặt trên các bo mạch nền tảng HT2 – ví dụ như cài đặt một bộ vi xử lý socket AM2+ trên bản mạch socket AM2 – và như vậy họ cũng sẽ không đạt được hiệu suất I/O tối đa. Thứ hai là tại thời điểm ra mắt, có thể một vài chipset sẽ không thể chạy với tốc độ truyền tải 10.400 MB/s, ngay cả nếu chúng là HT3, cũng giống như điều xảy ra khi Athlon 64 ra mắt lần đầu tiên.

Tương tự như điều xảy ra với các tốc độ clock thấp hơn, có thể sẽ có người gọi tốc độ clock lớn nhất của HT3 thành 5.2 GHz hay tốc độ truyền tải lớn nhất của nó thành 20.8 GB/s

Một lần nữa tốc độ truyền tải được HyperTransort giới thiệu lại được cường điệu cao hơn. Họ thông báo HyperTransport 3,0 có một tốc độ truyền tải lớn 41,6 GB/s. Để có được con số này, họ tính toán các liên kết 32-bit (không phải 16-bit) và nhân số tìm được với hai bởi vì có hai liên kết. Thuật toán được sử dụng là 2.600 MHz x 32 x 2 / 8 x 2. Như chúng tôi đã giải thích, các vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16-bit chứ không phải 32-bit và chúng tôi không đồng ý với phương pháp nhân đôi tốc độ truyền tải này bởi thực tế chỉ có một liên kết để truyền tải và một liên kết khác để nhận dữ liệu. Chúng tôi sẽ chỉ đồng ý với điều này nếu các liên kết có cùng hướng.

Ở đây chúng tôi chỉ đi vào giới thiệu các tính năng mới được mở rộng trong HyperTransport 3.0.

Chế độ hoạt động AC cho phép HyperTransport bus có thể thực hiện trên các khoảng cách dài hơn. Mục tiêu là cho phép HyperTransport có thể được sử dụng trực tiếp đến các trường hợp kết nối, bo mạch và các bảng nối đa năng. Các bộ vi xử lý sẽ không sử dụng tính năng này.

Phân tách kết nối (Link splitting) cho phép liên kết 16bit để có thể được truy cập như hai liên kết 8bit độc lập. Điều này có thể được sử dụng cho việc tăng số liên kết có sẵn, cho phép thêm số lượng CPU có thể được kết nối mà không cần sử dụng bất kỳ phần cứng mở rộng nào.

Hot Plugging cho phép các thiết bị HyperTransport có thể được cài đặt và hủy bỏ cài đặt khi bus đang chạy. Nó không cho phép bạn thay thế CPU khi hệ thống được bật vì CPU có một số chân khác bên cạnh HyperTransport, nhưng tính năng này có thể được sử dụng trên các máy chủ lưu trữ HT3.

Cuối cùng là Dynamic Link Clock/Width Adjustment, tính năng được sử dụng bởi các CPU AMD nền tảng HT3 – khi chúng được cài đặt trên bo mạch chủ bằng chipset HT3. Tính năng này cho phép CPU có thể thay đổi clock và số lượng bít được phát trên mỗi một chu kỳ clock mang tính động. Ý tưởng ở đây là giảm công suất tiêu thụ. Ví dụ, nếu CPU cảm nhận rằng HyperTransport bus của nó ở 2.600 MHz (10.400 MB/s) là quá nhiều so với những gì nó đang thực hiện được thì nó có thể giảm bus xuống 1.000 MHz (4.000 MB/s) – hoặc bất kỳ một tốc độ gì đó mà nó cho là sẽ phù hợp hơn. Cũng tương tự với số lượng bit được phát trên mỗi chu kỳ – nó có thể được giảm từ 16 đến bất cứ số nào mà CPU cảm thấy hợp lý, dựa trên hiệu suất sử dụng của hệ thống hiện hành. HyperTransport 1.x

HyperTransport bus có thể hoạt động dưới một vài cấu hình clock và độ rộng (nghĩa là số bit được truyền mỗi lần). Đây có thể là vấn đề gây ra nhiều hiểu sai và lỗi về HyperTransport.

HyperTransport là một bus được tạo bởi sự cộng tác sản xuất của một vài nhà máy, bao gồm AMD, nVidia và Apple. Bus này có thể được sử dụng trên một số ứng dụng và nó không bị hạn chế đối với các bộ vi xử lý của AMD.

Điều đó có nghĩa rằng cấu hình thực của HyperTransport bus sẽ phụ thuộc vào các chuyên gia phát triển phần cứng.

Một số chuyên gia phát triển tuyên bố về tốc độ truyền tải một cách quá mức của HyperTransport bus mà họ đang sử dụng.

Các bộ vi xử lý AMD64 hiện hành sử dụng HyperTransport 1 (HT1) hay HyperTransport 2 (HT2), và các bộ vi xử lý AMD sắp tới sử dụng HyperTransport 3 (HT3). Trong tất cả các trường hợp này, bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit, thậm chí HyperTransport còn cho phép sử dụng các liên kết 32bit.

HyperTransport 1 được sử dụng trên tất cả các socket 754 và socket AM2 Sempron (các bộ vi xử lý AM2 sử dụng HyperTransport 2.0).

Đây là một phân tích thống kê về tất cả các tốc độ truyền tải và clock có thể đối với HyperTransport 1.x (nghĩa là được cung cấp trên socket 754):

*
200 MHz = 400 MT/s = 800 MB/s
*
400 MHz = 800 MT/s = 1.600 MB/s
*
600 MHz = 1.200 MT/s = 2.400 MB/s
*
800 MHz = 1.600 MT/s = 3.200 MB/s

HyperTransport truyền tải 2 dữ liệu trên mỗi một chu kỳ clock, khái niệm đã được biết đến như DDR, tốc độ dữ liệu kép. Công thức để tìm ra tốc độ truyền tải lớn nhất theo lý thuyết là:

Tốc độ truyền tải = độ rộng xung (số bit) x clock x số đơn vị dữ liệu trên mỗi chu kỳ/ 8.

Như vậy với các bộ vi xử lý socket 754, HyperTransport bus có thể làm việc đến 800 MHz hay 3.200 MB/s.

- Nói tốc độ clock được sử dụng bởi HyperTransport 1.x là 1.600 MHz bởi vì mỗi một chu kỳ clock hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được tương đương với tốc độ clock 1.600 MHz chỉ truyền tải một dữ liệu trên chu kỳ clock. Cuối cùng tốc độ truyền tải sẽ như nhau, như công thức ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock”, nó sẽ sử dụng là “1”. Điều này cũng xảy ra tương tự với DDR và các bộ nhớ mới hơn có tốc độ clock tuyên bố là gấp đôi tốc độ clock thực (nghĩa là các bộ nhớ DDR2-800 làm việc thực tế là 400MHz nhưng truyền tải hai dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock).

- AMD nói rằng tốc độ clock là 1.600MT/s. MT/s là viết tắt của cụm Mega Transfers per Second hay hàng triệu truyền tải trong một giây. Đây mới là đúng cách để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên giây bằng tốc độ clock nhân với số lần dữ liệu truyền tải trên mỗi chu kỳ.

Nói rằng tốc độ truyền tải lớn nhất của HyperTransport 1.x là 6.400 MB/s. Điều đó là bởi vì tốc độ truyền tải đã được tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (nghĩa là 3.200MB/s cho đường dẫn đầu vào và 3.200MB/s cho đường dẫn đầu ra), chính vì vậy một số người đã đơn giản hóa bằng cách nhân tốc độ truyền tải lên hai để dùng chung cho cả hai đường dữ liệu. Chúng tôi không đồng ý với ý tưởng này vì nói như thể cũng giống như nói rằng tốc độ tối đa của một đường cao tốc nào đó là 130Km/h thì mỗi một chiều chỉ có 65Km/h, điều này quả thực rất dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác nói rằng bus ngoài hoặc FSB của Athlon 64 (hoặc các CPU dựa trên AMD64 nào đó) là 16.00MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Bạn cũng cần biết một điều rằng các bộ vi xử lý AMD có thể làm việc với một tốc độ clock dưới tốc độ đã tuyên bố 1.600 MT/s (800 MHz). Thực tế rằng chúng có thể làm việc ở bất kỳ tốc độ nào trong danh sách đã công bố ở trên.

Chipset có thể nhận ra tốc độ clock thấp hơn với CPU và thậm chí một bước 8bit thay vì 16bit. Trong thực tế, khi các chipset Athlon 64 đầu tiên mới ra đời, VIA đã tuyên bố rằng chipset của họ cho Athlon 64, K8T800 có nhiều ưu điểm hơn để cạnh trạnh với HyperTransport bus ở tốc độ 1.600MT/s khi không làm việc ở tốc độ truyền tải cực đại.

Tại website chính thức của HyperTransport, bạn sẽ thấy rằng họ tuyên bố tốc độ truyền tải lớn nhất là 12,8 GB/s đối với HyperTransport 1.x. Tốc độ truyền tải lớn nhất này được thực hiện bằng cách sử dụng các liên kết 32bit – vì các bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit. Nếu làm một phép toán bạn sẽ nhận được kết quả 6.400 MB/s (32 bits x 800 MHz x 2 / 8). Đây là một sự hợp tác gấp đôi tốc độ lớn nhất chỉ vì có hai đường dữ liệu được cung cấp (một cho phát và một cho nhận). Như chúng tôi đã nói trước, chúng tôi không đồng ý với quan niệm tính toán tốc độ truyền tải như vậy.

HyperTransport 2.0

HyperTransport 2.0 bổ sung thêm một số tốc độ clock mới – tốc độ truyên tải mới và tính năng mới, bản đồ hóa PCI Express, đây là tính năng sẽ giúp giao tiếp giữa HyperTransport và PCI Express – hay nói theo cách khác, làm cho nó dễ dàng hơn đối với các CPU khi giao tiếp với thiết bị PCI Express.

Tốc độ truyền tải và clock mới giới thiệu trong HyperTransport 2.0 được cho dưới đây, thừa nhận các liên kết 16bit (là cấu hình được sử dụng bởi bộ vi xử lý AMD):

*
1.000 MHz = 2.000 MT/s = 4.000 MB/s
*
1.200 MHz = 2.400 MT/s = 4.800 MB/s
*
1.400 MHz = 2.800 MT/s = 5.600 MB/s

Các thiết bị HyperTransport 2.0 cũng có thể làm việc với tốc độ truyền tải của HyperTransport 1.x.

AMD sử dụng HyperTransport 2.0 trên tất cả các CPU AMD64 sockets 939 và AM2 (ngoại trừ trên các CPU Sempron, CPU sử dụng HyperTransport 1.0), mặc dù vậy chỉ hỗ trợ tốc độ HT2 thấp hơn – trong thực tế AMD được quan tâm đến nhiều hơn trong tính năng bản đồ hóa PCI Express so với mặt tốc độ truyền tải cao. Tuy vậy các bộ vi xử lý này dựa trên tốc độ truyền tải lớn nhất của các liên kết HT2 là 4.000 MB/s

Để làm cho một số thứ bớt lộn xộn, AMD sử dụng lại vài lần tên “HT1” để miêu tả HyperTransport bus của CPU có các liên kết HyperTransport của họ đang làm việc ở tốc độ 1.000 MHz. Điều này có thể tránh người dùng thừa nhận rằng chỉ các phần của HT2 mới có thể làm việc đến tốc độ 1.400 MHz (5.600 MB/s).

Một số người cho rằng liên kết 1.000 MHz/4.000 MB/s HyperTransport này được sử dụng bởi các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 với:

- 2.000 MHz. Điều này có lẽ là vì trên mỗi một chu kỳ clock có hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được sẽ bằng với tốc độ clock 2.000MHz đang được truyền tải chỉ một dữ liệu trên chu kỳ. Kết quả cuối cùng đều như nhau, như công thức được thể hiện ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên số chu kỳ clock” thì lúc này là “1”. Điều tương tự cũng xảy ra đối với DDR và các bộ nhớ sau này.

- 2.000 MT/s. Đây là tốc độ truyền tải chính thức của AMD. Tên viết tắt của thuật ngữ này đã được giới thiệu trong phần trên. Đây là cách đúng đắn để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên mỗi giây bằng số tốc độ clock nhân với số lượng dữ liệu được truyền tải trên mỗi chu kỳ.

- 8.000 MB/s. Điều này xảy ra vì tốc độ truyền tải đã tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (có nghĩa là 4.000 MB/s cho mỗi đường dữ liệu vào ra riêng biệt). Phần này cũng như phần trước mà chúng tôi đã đề cập, và chúng tôi cũng đã bày tỏ quan điểm không đồng ý với quan niệm này, quan niệm dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác là nói rằng bus ngoài hay FSB (Front Side Bus) của Athlon 64 (hay của bất kỳ CPU dựa trên AMD64 nào) là 2.000MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Cũng giống như HyperTransport 1.x bạn cần phải lưu ý rằng các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 có thể làm việc với bất kỳ tốc độ clock nào dưới 1.000 MHz.

Một lần nữa các giá trị chính thức cho HyperTransport 2.0 lại được thổi phồng lên như trong một tuyên bố rằng chúng sử dụng các liên kết 32bit và nhân 2 vì có hai liên kết được cung cấp (một cho phát và một cho nhận dữ liệu). Và cũng vậy, chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm này.

HyperTransport 3.0

Bên cạnh việc bổ sung thêm tốc độ clock – tốc độ truyền tải mới – HyperTransport 3.0 còn có một số tính năng mới hơn so với HyperTransport 2.0, như chế độ hoạt động AC, Link Splitting, Hot Plugging và Dynamic Link Clock/Width Adjustment. Các bộ vi xử lý AMD sắp tới như Phenom, sẽ sử dụng phiên bản HyperTransport bus mới này.

HyperTransport 3.0 sẽ được sử dụng trên các CPU socket AM2+ và 1207+.

HyperTransport 3.0 có thêm các tốc độ clock mới, vẫn giữ tương thích với HT1 và HT2:

*
1.800 MHz = 3.600 MT/s = 7.200 MB/s
*
2.000 MHz = 4.000 MT/s = 8.000 MB/s
*
2.400 MHz = 4.800 MT/s = 9.600 MB/s
*
2.600 MHz = 5.200 MT/s = 10.400 MB/s

AMD tuyên bố rằng các CPU sắp tới của họ sẽ hỗ trợ tốc độ truyền HT3 lớn nhất – 10.400 MB/s – AMD gọi là 5,2 GT/s, nghĩa là hàng tỉ truyền tải trong một giây. Tuy vậy chúng tôi vẫn cho rằng các CPU đó sẽ vẫn chỉ tương thích với tốc độ thấp hơn. Điều này là vì có hai thứ. Đầu tiên là các CPU nền tảng HT3 mới có thể được cài đặt trên các bo mạch nền tảng HT2 – ví dụ như cài đặt một bộ vi xử lý socket AM2+ trên bản mạch socket AM2 – và như vậy họ cũng sẽ không đạt được hiệu suất I/O tối đa. Thứ hai là tại thời điểm ra mắt, có thể một vài chipset sẽ không thể chạy với tốc độ truyền tải 10.400 MB/s, ngay cả nếu chúng là HT3, cũng giống như điều xảy ra khi Athlon 64 ra mắt lần đầu tiên.

Tương tự như điều xảy ra với các tốc độ clock thấp hơn, có thể sẽ có người gọi tốc độ clock lớn nhất của HT3 thành 5.2 GHz hay tốc độ truyền tải lớn nhất của nó thành 20.8 GB/s

Một lần nữa tốc độ truyền tải được HyperTransort giới thiệu lại được cường điệu cao hơn. Họ thông báo HyperTransport 3,0 có một tốc độ truyền tải lớn 41,6 GB/s. Để có được con số này, họ tính toán các liên kết 32-bit (không phải 16-bit) và nhân số tìm được với hai bởi vì có hai liên kết. Thuật toán được sử dụng là 2.600 MHz x 32 x 2 / 8 x 2. Như chúng tôi đã giải thích, các vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16-bit chứ không phải 32-bit và chúng tôi không đồng ý với phương pháp nhân đôi tốc độ truyền tải này bởi thực tế chỉ có một liên kết để truyền tải và một liên kết khác để nhận dữ liệu. Chúng tôi sẽ chỉ đồng ý với điều này nếu các liên kết có cùng hướng.

Ở đây chúng tôi chỉ đi vào giới thiệu các tính năng mới được mở rộng trong HyperTransport 3.0.

Chế độ hoạt động AC cho phép HyperTransport bus có thể thực hiện trên các khoảng cách dài hơn. Mục tiêu là cho phép HyperTransport có thể được sử dụng trực tiếp đến các trường hợp kết nối, bo mạch và các bảng nối đa năng. Các bộ vi xử lý sẽ không sử dụng tính năng này.

Phân tách kết nối (Link splitting) cho phép liên kết 16bit để có thể được truy cập như hai liên kết 8bit độc lập. Điều này có thể được sử dụng cho việc tăng số liên kết có sẵn, cho phép thêm số lượng CPU có thể được kết nối mà không cần sử dụng bất kỳ phần cứng mở rộng nào.

Hot Plugging cho phép các thiết bị HyperTransport có thể được cài đặt và hủy bỏ cài đặt khi bus đang chạy. Nó không cho phép bạn thay thế CPU khi hệ thống được bật vì CPU có một số chân khác bên cạnh HyperTransport, nhưng tính năng này có thể được sử dụng trên các máy chủ lưu trữ HT3.

Cuối cùng là Dynamic Link Clock/Width Adjustment, tính năng được sử dụng bởi các CPU AMD nền tảng HT3 – khi chúng được cài đặt trên bo mạch chủ bằng chipset HT3. Tính năng này cho phép CPU có thể thay đổi clock và số lượng bít được phát trên mỗi một chu kỳ clock mang tính động. Ý tưởng ở đây là giảm công suất tiêu thụ. Ví dụ, nếu CPU cảm nhận rằng HyperTransport bus của nó ở 2.600 MHz (10.400 MB/s) là quá nhiều so với những gì nó đang thực hiện được thì nó có thể giảm bus xuống 1.000 MHz (4.000 MB/s) – hoặc bất kỳ một tốc độ gì đó mà nó cho là sẽ phù hợp hơn. Cũng tương tự với số lượng bit được phát trên mỗi chu kỳ – nó có thể được giảm từ 16 đến bất cứ số nào mà CPU cảm thấy hợp lý, dựa trên hiệu suất sử dụng của hệ thống hiện hành. HyperTransport 1.x

HyperTransport bus có thể hoạt động dưới một vài cấu hình clock và độ rộng (nghĩa là số bit được truyền mỗi lần). Đây có thể là vấn đề gây ra nhiều hiểu sai và lỗi về HyperTransport.

HyperTransport là một bus được tạo bởi sự cộng tác sản xuất của một vài nhà máy, bao gồm AMD, nVidia và Apple. Bus này có thể được sử dụng trên một số ứng dụng và nó không bị hạn chế đối với các bộ vi xử lý của AMD.

Điều đó có nghĩa rằng cấu hình thực của HyperTransport bus sẽ phụ thuộc vào các chuyên gia phát triển phần cứng.

Một số chuyên gia phát triển tuyên bố về tốc độ truyền tải một cách quá mức của HyperTransport bus mà họ đang sử dụng.

Các bộ vi xử lý AMD64 hiện hành sử dụng HyperTransport 1 (HT1) hay HyperTransport 2 (HT2), và các bộ vi xử lý AMD sắp tới sử dụng HyperTransport 3 (HT3). Trong tất cả các trường hợp này, bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit, thậm chí HyperTransport còn cho phép sử dụng các liên kết 32bit.

HyperTransport 1 được sử dụng trên tất cả các socket 754 và socket AM2 Sempron (các bộ vi xử lý AM2 sử dụng HyperTransport 2.0).

Đây là một phân tích thống kê về tất cả các tốc độ truyền tải và clock có thể đối với HyperTransport 1.x (nghĩa là được cung cấp trên socket 754):

*
200 MHz = 400 MT/s = 800 MB/s
*
400 MHz = 800 MT/s = 1.600 MB/s
*
600 MHz = 1.200 MT/s = 2.400 MB/s
*
800 MHz = 1.600 MT/s = 3.200 MB/s

HyperTransport truyền tải 2 dữ liệu trên mỗi một chu kỳ clock, khái niệm đã được biết đến như DDR, tốc độ dữ liệu kép. Công thức để tìm ra tốc độ truyền tải lớn nhất theo lý thuyết là:

Tốc độ truyền tải = độ rộng xung (số bit) x clock x số đơn vị dữ liệu trên mỗi chu kỳ/ 8.

Như vậy với các bộ vi xử lý socket 754, HyperTransport bus có thể làm việc đến 800 MHz hay 3.200 MB/s.

- Nói tốc độ clock được sử dụng bởi HyperTransport 1.x là 1.600 MHz bởi vì mỗi một chu kỳ clock hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được tương đương với tốc độ clock 1.600 MHz chỉ truyền tải một dữ liệu trên chu kỳ clock. Cuối cùng tốc độ truyền tải sẽ như nhau, như công thức ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock”, nó sẽ sử dụng là “1”. Điều này cũng xảy ra tương tự với DDR và các bộ nhớ mới hơn có tốc độ clock tuyên bố là gấp đôi tốc độ clock thực (nghĩa là các bộ nhớ DDR2-800 làm việc thực tế là 400MHz nhưng truyền tải hai dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock).

- AMD nói rằng tốc độ clock là 1.600MT/s. MT/s là viết tắt của cụm Mega Transfers per Second hay hàng triệu truyền tải trong một giây. Đây mới là đúng cách để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên giây bằng tốc độ clock nhân với số lần dữ liệu truyền tải trên mỗi chu kỳ.

Nói rằng tốc độ truyền tải lớn nhất của HyperTransport 1.x là 6.400 MB/s. Điều đó là bởi vì tốc độ truyền tải đã được tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (nghĩa là 3.200MB/s cho đường dẫn đầu vào và 3.200MB/s cho đường dẫn đầu ra), chính vì vậy một số người đã đơn giản hóa bằng cách nhân tốc độ truyền tải lên hai để dùng chung cho cả hai đường dữ liệu. Chúng tôi không đồng ý với ý tưởng này vì nói như thể cũng giống như nói rằng tốc độ tối đa của một đường cao tốc nào đó là 130Km/h thì mỗi một chiều chỉ có 65Km/h, điều này quả thực rất dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác nói rằng bus ngoài hoặc FSB của Athlon 64 (hoặc các CPU dựa trên AMD64 nào đó) là 16.00MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Bạn cũng cần biết một điều rằng các bộ vi xử lý AMD có thể làm việc với một tốc độ clock dưới tốc độ đã tuyên bố 1.600 MT/s (800 MHz). Thực tế rằng chúng có thể làm việc ở bất kỳ tốc độ nào trong danh sách đã công bố ở trên.

Chipset có thể nhận ra tốc độ clock thấp hơn với CPU và thậm chí một bước 8bit thay vì 16bit. Trong thực tế, khi các chipset Athlon 64 đầu tiên mới ra đời, VIA đã tuyên bố rằng chipset của họ cho Athlon 64, K8T800 có nhiều ưu điểm hơn để cạnh trạnh với HyperTransport bus ở tốc độ 1.600MT/s khi không làm việc ở tốc độ truyền tải cực đại.

Tại website chính thức của HyperTransport, bạn sẽ thấy rằng họ tuyên bố tốc độ truyền tải lớn nhất là 12,8 GB/s đối với HyperTransport 1.x. Tốc độ truyền tải lớn nhất này được thực hiện bằng cách sử dụng các liên kết 32bit – vì các bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit. Nếu làm một phép toán bạn sẽ nhận được kết quả 6.400 MB/s (32 bits x 800 MHz x 2 / 8). Đây là một sự hợp tác gấp đôi tốc độ lớn nhất chỉ vì có hai đường dữ liệu được cung cấp (một cho phát và một cho nhận). Như chúng tôi đã nói trước, chúng tôi không đồng ý với quan niệm tính toán tốc độ truyền tải như vậy.

HyperTransport 2.0

HyperTransport 2.0 bổ sung thêm một số tốc độ clock mới – tốc độ truyên tải mới và tính năng mới, bản đồ hóa PCI Express, đây là tính năng sẽ giúp giao tiếp giữa HyperTransport và PCI Express – hay nói theo cách khác, làm cho nó dễ dàng hơn đối với các CPU khi giao tiếp với thiết bị PCI Express.

Tốc độ truyền tải và clock mới giới thiệu trong HyperTransport 2.0 được cho dưới đây, thừa nhận các liên kết 16bit (là cấu hình được sử dụng bởi bộ vi xử lý AMD):

*
1.000 MHz = 2.000 MT/s = 4.000 MB/s
*
1.200 MHz = 2.400 MT/s = 4.800 MB/s
*
1.400 MHz = 2.800 MT/s = 5.600 MB/s

Các thiết bị HyperTransport 2.0 cũng có thể làm việc với tốc độ truyền tải của HyperTransport 1.x.

AMD sử dụng HyperTransport 2.0 trên tất cả các CPU AMD64 sockets 939 và AM2 (ngoại trừ trên các CPU Sempron, CPU sử dụng HyperTransport 1.0), mặc dù vậy chỉ hỗ trợ tốc độ HT2 thấp hơn – trong thực tế AMD được quan tâm đến nhiều hơn trong tính năng bản đồ hóa PCI Express so với mặt tốc độ truyền tải cao. Tuy vậy các bộ vi xử lý này dựa trên tốc độ truyền tải lớn nhất của các liên kết HT2 là 4.000 MB/s

Để làm cho một số thứ bớt lộn xộn, AMD sử dụng lại vài lần tên “HT1” để miêu tả HyperTransport bus của CPU có các liên kết HyperTransport của họ đang làm việc ở tốc độ 1.000 MHz. Điều này có thể tránh người dùng thừa nhận rằng chỉ các phần của HT2 mới có thể làm việc đến tốc độ 1.400 MHz (5.600 MB/s).

Một số người cho rằng liên kết 1.000 MHz/4.000 MB/s HyperTransport này được sử dụng bởi các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 với:

- 2.000 MHz. Điều này có lẽ là vì trên mỗi một chu kỳ clock có hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được sẽ bằng với tốc độ clock 2.000MHz đang được truyền tải chỉ một dữ liệu trên chu kỳ. Kết quả cuối cùng đều như nhau, như công thức được thể hiện ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên số chu kỳ clock” thì lúc này là “1”. Điều tương tự cũng xảy ra đối với DDR và các bộ nhớ sau này.

- 2.000 MT/s. Đây là tốc độ truyền tải chính thức của AMD. Tên viết tắt của thuật ngữ này đã được giới thiệu trong phần trên. Đây là cách đúng đắn để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên mỗi giây bằng số tốc độ clock nhân với số lượng dữ liệu được truyền tải trên mỗi chu kỳ.

- 8.000 MB/s. Điều này xảy ra vì tốc độ truyền tải đã tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (có nghĩa là 4.000 MB/s cho mỗi đường dữ liệu vào ra riêng biệt). Phần này cũng như phần trước mà chúng tôi đã đề cập, và chúng tôi cũng đã bày tỏ quan điểm không đồng ý với quan niệm này, quan niệm dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác là nói rằng bus ngoài hay FSB (Front Side Bus) của Athlon 64 (hay của bất kỳ CPU dựa trên AMD64 nào) là 2.000MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Cũng giống như HyperTransport 1.x bạn cần phải lưu ý rằng các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 có thể làm việc với bất kỳ tốc độ clock nào dưới 1.000 MHz.

Một lần nữa các giá trị chính thức cho HyperTransport 2.0 lại được thổi phồng lên như trong một tuyên bố rằng chúng sử dụng các liên kết 32bit và nhân 2 vì có hai liên kết được cung cấp (một cho phát và một cho nhận dữ liệu). Và cũng vậy, chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm này.

HyperTransport 3.0

Bên cạnh việc bổ sung thêm tốc độ clock – tốc độ truyền tải mới – HyperTransport 3.0 còn có một số tính năng mới hơn so với HyperTransport 2.0, như chế độ hoạt động AC, Link Splitting, Hot Plugging và Dynamic Link Clock/Width Adjustment. Các bộ vi xử lý AMD sắp tới như Phenom, sẽ sử dụng phiên bản HyperTransport bus mới này.

HyperTransport 3.0 sẽ được sử dụng trên các CPU socket AM2+ và 1207+.

HyperTransport 3.0 có thêm các tốc độ clock mới, vẫn giữ tương thích với HT1 và HT2:

*
1.800 MHz = 3.600 MT/s = 7.200 MB/s
*
2.000 MHz = 4.000 MT/s = 8.000 MB/s
*
2.400 MHz = 4.800 MT/s = 9.600 MB/s
*
2.600 MHz = 5.200 MT/s = 10.400 MB/s

AMD tuyên bố rằng các CPU sắp tới của họ sẽ hỗ trợ tốc độ truyền HT3 lớn nhất – 10.400 MB/s – AMD gọi là 5,2 GT/s, nghĩa là hàng tỉ truyền tải trong một giây. Tuy vậy chúng tôi vẫn cho rằng các CPU đó sẽ vẫn chỉ tương thích với tốc độ thấp hơn. Điều này là vì có hai thứ. Đầu tiên là các CPU nền tảng HT3 mới có thể được cài đặt trên các bo mạch nền tảng HT2 – ví dụ như cài đặt một bộ vi xử lý socket AM2+ trên bản mạch socket AM2 – và như vậy họ cũng sẽ không đạt được hiệu suất I/O tối đa. Thứ hai là tại thời điểm ra mắt, có thể một vài chipset sẽ không thể chạy với tốc độ truyền tải 10.400 MB/s, ngay cả nếu chúng là HT3, cũng giống như điều xảy ra khi Athlon 64 ra mắt lần đầu tiên.

Tương tự như điều xảy ra với các tốc độ clock thấp hơn, có thể sẽ có người gọi tốc độ clock lớn nhất của HT3 thành 5.2 GHz hay tốc độ truyền tải lớn nhất của nó thành 20.8 GB/s

Một lần nữa tốc độ truyền tải được HyperTransort giới thiệu lại được cường điệu cao hơn. Họ thông báo HyperTransport 3,0 có một tốc độ truyền tải lớn 41,6 GB/s. Để có được con số này, họ tính toán các liên kết 32-bit (không phải 16-bit) và nhân số tìm được với hai bởi vì có hai liên kết. Thuật toán được sử dụng là 2.600 MHz x 32 x 2 / 8 x 2. Như chúng tôi đã giải thích, các vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16-bit chứ không phải 32-bit và chúng tôi không đồng ý với phương pháp nhân đôi tốc độ truyền tải này bởi thực tế chỉ có một liên kết để truyền tải và một liên kết khác để nhận dữ liệu. Chúng tôi sẽ chỉ đồng ý với điều này nếu các liên kết có cùng hướng.

Ở đây chúng tôi chỉ đi vào giới thiệu các tính năng mới được mở rộng trong HyperTransport 3.0.

Chế độ hoạt động AC cho phép HyperTransport bus có thể thực hiện trên các khoảng cách dài hơn. Mục tiêu là cho phép HyperTransport có thể được sử dụng trực tiếp đến các trường hợp kết nối, bo mạch và các bảng nối đa năng. Các bộ vi xử lý sẽ không sử dụng tính năng này.

Phân tách kết nối (Link splitting) cho phép liên kết 16bit để có thể được truy cập như hai liên kết 8bit độc lập. Điều này có thể được sử dụng cho việc tăng số liên kết có sẵn, cho phép thêm số lượng CPU có thể được kết nối mà không cần sử dụng bất kỳ phần cứng mở rộng nào.

Hot Plugging cho phép các thiết bị HyperTransport có thể được cài đặt và hủy bỏ cài đặt khi bus đang chạy. Nó không cho phép bạn thay thế CPU khi hệ thống được bật vì CPU có một số chân khác bên cạnh HyperTransport, nhưng tính năng này có thể được sử dụng trên các máy chủ lưu trữ HT3.

Cuối cùng là Dynamic Link Clock/Width Adjustment, tính năng được sử dụng bởi các CPU AMD nền tảng HT3 – khi chúng được cài đặt trên bo mạch chủ bằng chipset HT3. Tính năng này cho phép CPU có thể thay đổi clock và số lượng bít được phát trên mỗi một chu kỳ clock mang tính động. Ý tưởng ở đây là giảm công suất tiêu thụ. Ví dụ, nếu CPU cảm nhận rằng HyperTransport bus của nó ở 2.600 MHz (10.400 MB/s) là quá nhiều so với những gì nó đang thực hiện được thì nó có thể giảm bus xuống 1.000 MHz (4.000 MB/s) – hoặc bất kỳ một tốc độ gì đó mà nó cho là sẽ phù hợp hơn. Cũng tương tự với số lượng bit được phát trên mỗi chu kỳ – nó có thể được giảm từ 16 đến bất cứ số nào mà CPU cảm thấy hợp lý, dựa trên hiệu suất sử dụng của hệ thống hiện hành.

Theo quantrimang.com

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 17

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 17

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 17
Beauti”phun”
icon1 nongdan | icon2 Relax corner | icon4 01 17th, 2008| icon3No Comments »

Một phát thanh viên không tên tuổi của Thụy Điển bỗng chốc trở thành “sao bự” trên mạng You Tube sau khi cô này thực hiện một tiết mục đặc sắc trên truyền hình: nôn mửa giữa cảnh quay trực tiếp, và ngay sau đó lại tiếp tục dẫn chương trình.

Cô phát thanh viên biến mất khỏi màn hình trong một vài giây, và trong khi khán giả còn chưa kịp định thần thì Nazemson đã trở lại để tiếp tục chương trình, như thể chưa có chuyện gì xảy ra trước đó.

Cô nàng cũng hồn nhiên giải thích cho hàng trăm khán thính giả về nguyên nhân xảy ra sự cố: “Tôi đang trong kỳ kinh nguyệt, những cơn đau nhiều khi khiến tôi không kiềm chế nổi”.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)