Nov 25
Phân loại cáp HDMI
icon1 nongdan | icon2 Hardware | icon4 11 25th, 2009| icon3No Comments »

HDMI Licensing, tổ chức đại diện cho các nhà phát minh HDMI vừa đưa ra cách phân loại cụ thể dây cáp HDMI với tính năng được ghi nhãn riêng biệt.

HDMI Licensing chia dây cáp HDMI làm 5 loại được đánh nhãn riêng, ghi tính năng cụ thể. Ảnh: Cnet.

Cách phân loại cụ thể dây cáp HDMI giúp người sử dụng chọn mua đúng loại cáp cần thiết dựa trên tính năng được ghi nhãn rõ ràng, chứ không phải mất công tìm hiểu khi đi mua.

Theo thông báo hướng dẫn của HDMI Licensing, các nhà sản xuất dây cáp HDMI sẽ phải tuân thủ việc ghi nhãn với tính năng rõ ràng cho từng loại. Còn trên các sản phẩm không phải dây cáp, việc ghi nhãn chính thức có hiệu lực từ 01/01/2012.

HDMI Licensing chia dây cáp HDMI làm 5 loại: cáp HDMI tiêu chuẩn (Standard HDMI cable), cáp HDMI kết nối mạng (Standard HDMI cable with Ethernet), cáp HDMI tự động (Standard automotive HDMI cable), cáp HDMI tốc độ cao (High-speed HDMI cable), cáp HDMI tốc độ cao kết nối mạng (High-speed HDMI cable with Ethernet)

Hiện, chuẩn HDMI 1.3 vẫn được ứng dụng rộng rãi trên thị thiết bị nghe nhìn. Song HDMI Licensing gần đây đã triển khai đưa cấu hình chi tiết của chuẩn HDMI 1.4 đến các nhà sản xuất để tiến hành các thử nghiệm tương tích. HDMI 1.4 sẽ có thêm một số tính năng mới và sẽ sớm được ứng dụng vào sản xuất thiết bị.

Cnet cho biết các sản phẩm hỗ trợ chuẩn HDMI 1.4 sẽ có mặt tại Triển lãm hàng điện tử tiêu dùng – CES 2010 tổ chức tại Las Vegas, Mỹ vào đầu năm tới.

Source: sohoa.net

Phân loại cáp HDMI

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 5.0/5 (1 vote cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jun 6

Chọn Router  như thế nào để phù hợp với nhu cầu của bạn? Trong bài này chúng tôi sẽ cung cấp cho các bạn một số mẹo nhỏ trong việc chọn ra được router tốt nhất theo nhu cầu của mình.

Quả thực chúng ta có rất nhiều sự lựa chọn cho việc mua router đến nỗi nó có thể làm cho bạn cảm thấy lộn xộn, thậm chí ngay cả các chuyên gia về CNTT chuyên nghiệp.

Có một cách cần phải chú ý không thể chọn đó là sử dụng các tốc độ được ghi trên quảng cáo của nhà sản xuất, đây là những con số hiếm khi mang tính thực tế. Một số hãng quảng cáo tốc độ lên đến 300 Mb/s ở phần tên của các router tuy nhiên thực tế lại không bao giờ được như vậy trong thế giới thực. Thay vì đó, bạn cần phải xem xét nhiều tính năng cần thiết và điều đó có thể mất nhiều thời gian. Tuy trên thị trường hiện đang tràn ngập các Wi-Fi router, nhưng việc tìm ra một router tốt đơn giản hơn rất nhiều so với những gì bạn nghĩ nếu biết mình đang tìm kiếm thứ gì. Chúng tôi đưa ra một danh sách các điểm chính bạn cần cân nhắc khi chọn mua một router:

802.11n (N) liệu có thực sự tốt hơn 802.11g (G)?

Tin tưởng hay không, các router Wi-Fi 802.11g sử dụng công nghệ đã có cách đây đến 7 năm, nhưng vẫn được dùng phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhỏ mua các router G vì họ sẽ phải chi phí ít hơn và dễ thực hiện hơn. Các router  802.11g gồm có một số chức năng đặc biệt và cần thiết cho doanh nghiệp,chẳng hạn như tường lửa dựa trên chính sách và các tính năng quản lý những vấn đề gây hại. Tuy nhiên trong lĩnh vực gia đình, tốc độ lại quan trọng hơn rất nhiều, khi đó các router Wi-Fi 802.11n chính là ông vua. Một số router N, chẳng hạn như TrendNet Gigabit, có thể có tốc độ truyền tải dữ liệu lên đến 200 Mbps, và trên lý thuyết có thể đạt đến 300 Mbps. Các router N thường có được thông lượng lớn gấp 5 lần các router G trong quá trình test thực. ::Full content::

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Apr 21

Nhanh hơn, to hơn, đẹp hơn, mạnh mẽ và giá ngày càng đắt hơn, đó là những gì mà người dùng chứng kiến sự phát triển của netbook gần 2 năm qua.

Asus khơi mào cho sự ra đời của thị trường netbook bằng Eee PC 701. Chiếc laptop đơn giản, được xem là giải giải pháp dành cho sinh viên. Sau Asus, các nhà sản xuất liên tục đưa đến nhiều model mới với thiết kế, cấu hình khác nhau, nhưng cơ bản đều dựa trên chiếc Eee PC đầu tiên.

Trong gần hai năm, netbook ngày càng có kích thước lớn, cấu hình mạnh mẽ và giá bán cũng cao hơn, nhiều model còn bỏ qua tiêu chí ban đầu trở thành sản phẩm cao cấp, giá đắt. Bên cạnh đó, Windows XP trở nên vượt trội so với Linux về số sản phẩm netbook được cài đặt.

Từ chiếc netbook đầu tiên Eee PC 701 thị trường đã chứng kiến sự thay đổi liên tục, với HP 2133 Mini Note chạy Vista hay MSI Wind U120 gây sửng sốt. Dưới đây là 22 mẫu netbook đánh dấu quá trình phát triển của phân khúc laptop tí hon.

Asus Eee PC 701 4G


Asus Eee PC 701 4G là chiếc netbook đầu tiên. ::Full content::

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 3.5/5 (2 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Aug 17

Gabriel Torres

Bộ nhớ hệ thống RAM thường gây cản trở cho máy tính trong việc thực hiện hiệu suất tối đa của nó. Sở dĩ như vậy là do các bộ vi xử lý (CPU) thường nhanh hơn bộ nhớ RAM và thường phải chờ RAM phân phối dữ liệu. Trong suốt thời gian chờ đợi này CPU hoàn toàn nhàn rỗi và không thực hiện một nhiệm vụ nào (điều đó không tuyệt đối đúng nhưng nó khớp với những giải thích của chúng tôi).

Trong một máy tính hoàn hảo, bộ nhớ RAM sẽ nhanh tương đương với CPU. Dual channel chính là công nghệ được sử dụng để nhân đôi tốc độ truyền thông giữa bộ điều khiển nhớ và bộ nhớ RAM để cải thiện được hiệu suất hệ thống. Hướng dẫn này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về một số vấn đề của công nghệ Dual channel như: cách làm việc ra sao, thiết lập nó như thế nào và các tính toán tốc độ truyền tải,…

Trước khi giới thiệu về dual channel, chúng ta hãy đi tìm hiểu về bộ nhớ RAM được kết nối với hệ thống như thế nào.

Bộ nhớ được điều khiển bởi một mạch có tên gọi là memory controller. Mạch này nằm bên trong chipset (chip cầu bắc – hoặc MCH, Memory Controller Hub) đối với các CPU của Intel, và bên trong CPU đối với các CPU của AMD (CPU được thiết kế trên kiến trúc AMD64; CPU của AMD cũ như Athlon XP sử dụng cùng lược đồ như các CPU của Intel).

RAM được kết nối với memory controller thông qua một số dây. Các dây này được chia thành ba nhóm: nhóm dữ liệu, nhóm địa chỉ và nhóm điều khiển. Các dây làm chức năng bus dữ liệu sẽ mang dữ liệu được đọc (nghĩa là được truyền tải từ bộ nhớ sang memory controller, sau đó đến CPU) hoặc được ghi (nghĩa là được truyền tải từ memory controller đến bộ nhớ, từ CPU). Các dây đóng vai trò bus địa chỉ có nhiệm vụ chỉ dẫn cho các mođun nhớ vị trí chính xác (địa chỉ nào) dữ liệu sẽ được trích rút hoặc được lưu. Còn các dây điều khiển gửi các lệnh đến các mođun nhớ, chỉ dẫn cho chúng kiểu hoạt động nào đang được thực hiện – cho ví dụ, nếu nó là một hoạt động ghi (lưu) hoặc hoạt động đọc. Dây quan trọng khác có trong bus điều khiển là tín hiệu clock nhớ. Chúng ta hãy xem lại tóm tắt trong hình 1. Hình vẽ của chúng tôi được dựa trên hệ thống của Intel. Các CPU của AMD có memory controller bên trong CPU, vì vậy bus nhớ đến trực tiếp từ CPU mà không cần trung gian.

Hình 1: Cách thức truy cập bộ nhớ

Tốc độ bộ nhớ (tốc độ clock), dung lượng cực đại và các kiểu RAM (DDR, DDR2, DDR3,…) đối với một hệ thống được định nghĩa bởi chipset (Intel) hoặc bởi CPU (AMD). Cho ví dụ, các kiểu bộ nhớ DDR3 trên hệ thống Intel phụ thuộc vào chipset (và bo mạch chủ hỗ trợ các kiểu bộ nhớ đó) chứ không phải do CPU. Các hệ thống AMD hiện không thể làm việc với các bộ nhớ DDR3 vì memory controller được nhúng bên trong chúng không thể nhận diện được công nghệ này.

Với tốc độ clock, nếu memory controller chỉ có thể tạo một tốc độ clock , 667 MHz (333 MHz x 2), thì các bộ nhớ DDR2-800 của bạn sẽ làm việc ở tần số 667 MHz trên hệ thống này. Đây là một hạn chế vật lý đối với memory controller. Thông thường bạn sẽ chỉ thấy kiểu hạn chế này trên các hệ thống của Intel, vì các CPU của AMD có thể nhận ra các bộ nhớ DDR2 lên đến 800 MHz (socket AM2 CPU) hoặc 1.066 MHz (socket AM2+ Phenom CPU).

Một điều thú vị khác có liên quan đến số lượng tối đa của bộ nhớ mà hệ thống có thể nhận diện đó là, hầu hết các CPU của Intel đều có bus địa chỉ cho bộ nhớ 32 hoặc 36-bit (ở đây chúng tôi đang nói đến bus địa chỉ có sẵn trên bus ngoài của CPU, nghĩa là trên front side bus của CPU). Điều này cho phép CPU có thể nhận ra các bộ nhớ lên đến 4 GB (2^32) hoặc 64 GB (2^36).

Tuy nhiên với memory controller, thành phần có thể truy cập bô nhớ (không phải CPU truy cập trực tiếp), đây là thành phần trung gian có thể hạn chế số lượng tối đa của RAM mà hệ thống của bạn có. Cho ví dụ, các chipset của Intel P35 và G33 chỉ có thể truy cập lên đến 8 GB RAM (2 GB trên mỗi một socket nhớ). Cộng với một vấn đề nữa ở đây là nhà sản xuất bo mạch chủ không tạo sẵn số lượng đủ các socket bộ nhớ trên bo mạch chủ để đáp ứng số lượng tối đa của RAM mà CPU có thể truy cập về mặt lý thuyết. Cho ví dụ, nếu một nhà sản xuất tạo một bo mạch chủ dựa trên chipset Intel G33 chỉ có hai socket nhớ thì số lượng tối đa bộ nhớ mà bạn có thể có là 4 GB (2 GB trên mỗi socket), mặc dù chipset này có khả năng cho phép truy cập đến 8 GB.

Do tất cả các kiểu modul nhớ hiện có ngày nay đều là các thiết bị 64-bit nên bus dữ liệu của bộ nhớ là 64-bit. Tuy nhiên công nghệ dual channel đã thực hiện mở rộng bus dữ liệu của bộ nhớ từ 64 lên đến 128 bit.

Vậy Dual Channel là gì?

Dual channel là công nghệ cho phép memory controller có thể mở rộng độ rộng của bus dữ liệu từ 64 đến 128 bit. Hãy coi mọi thứ vẫn được duy trì tương tự (ví dụ về tốc độ clock chẳng hạn), khi đó tốc độ truyền tải lý thuyết lớn nhất của bộ nhớ sẽ được gấp đôi khi sử dụng công nghệ này.

Tốc độ truyền tải theo lý thuyết lớn nhất (MTTR) được tính theo công thức:

MTTR = tốc độ clock thực x dữ liệu được truyền tải trên mỗi chu kỳ x số bit được truyền tải trên mỗi chu kỳ / 8
hoặc
MTTR = tốc độ clock của DDR x số bit được truyền tải trên mỗi chu kỳ /8

Các bộ nhớ dựa trên công nghệ DDR (Double Data Rate) như DDR-SDRAM, DDR2-SDRAM và DDR3-SDRAM đều truyền tải hai dữ liệu trên một chu kỳ. Do đó chúng có tốc độ truyền tải gấp đôi so với các bộ nhớ truyền thống (như SDRAM thời điểm ban đầu) ở cùng một tốc độ clock. Cũng chính do đó nên các bộ nhớ DDR thường được gán nhãn gấp đôi tốc độ clock thực của chúng. Cho ví dụ các bộ nhớ DDR2-800 thực sự làm việc ở tốc độ clock 400 MHz và truyền tải hai dữ liệu trên một chu kỳ clock, nên nhãn được gán là “800 MHz” mặc dù tín hiệu clock thực sự của nó không phải là 800 MHz.

Trong các công thức đã cho ở trên, bạn cần nhân tốc độ clock thự lên hai lần, nghĩa là sử dụng tốc độ clock của DDR.

Một mođun nhớ DDR2-800 – một thiết bị 64-bit, như đã đề cập trước – có tốc độ truyền tải lý thuyết lớn nhất là 6400 MB/s (800 MHz x 64 / 8). Đây chính là lý do tại sao các mođun nhớ sử dụng các chip nhớ DDR2-800 cũng được gọi là PC2-6400. Con số này nhằm mục đích nói lên tốc độ truyền tải lớn nhất theo lý thuyết của bộ nhớ theo MB/s.

Nếu chúng ta sử dụng công nghệ dual channel với các mođun DDR2-800 thì tốc độ truyền tải lớn nhất theo lý thuyết của bộ nhớ sẽ được gấp đôi, nhảy từ 6.400 MB/s lên 12.800 MB/s (800 MHz x 128 / 8), tại sao như vậy là vì, khi đó chúng ta sẽ truyền tải gấp đôi lượng dữ liệu (128 bits so với 64 bits) trên mỗi chu kỳ clock.

Các bạn cần lưu ý rằng, tốc độ truyền tải ở đây chỉ là “lý thuyết”. Khi tính toán, chúng ta cần thừa nhận, sự truyền tải dữ liệu nào đó sẽ xuất hiện tại mỗi chu kỳ clock (nghĩa là trên bộ nhớ DDR2-800 sẽ có 800.000.000 lượt truyền tải dữ liệu xuất hiện mỗi giây), thực tế không bao giờ xảy ra vì không có memory controller và CPU nào truyền tải 100% dữ liệu theo thời gian. Đó là lý do tại sao khi bạn đo sự truyền tải thực từ hệ thống bằng một chương trình nào đó chẳng hạn như Sandra, thì bạn sẽ nhận được giá trị thấp hơn so với tốc độ truyền tải cực đại theo lý thuyết.

Một vấn đề nữa mà các bạn cần lưu ý ở đây là hiệu suất tăng chỉ được thực hiện trên hệ thống nhớ phụ; hiệu suất tăng theo lý thuyết 100% không tương đồng với việc tăng 100% hiệu suất trong toàn bộ máy tính của bạn mà chỉ một số lượng phần trăm nhỏ trong việc tăng hiệu suất nhớ này sẽ tác động vào toàn bộ hiệu suất của hệ thống.

Chúng tôi sẽ giải thích một cách chi tiết cho các bạn về những gì xảy ra về mặt vật lý với bus dữ liệu của bộ nhớ vì có rất nhiều thông tin sai được post lên các forum về cách làm việc của công nghệ dual channel như thế nào.

::Full content::

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Apr 8

Đánh vào tâm lý mua hàng rẻ và chỉ quan tâm đến yếu tố dung lượng bộ nhớ thẻ của người tiêu dùng, thẻ nhớ hàng giả, hàng nhái vẫn đang tiếp tục thao túng thị trường linh kiện điện thoại di động. Hiện tượng này đã gây khó khăn rất nhiều cho khách hàng khi đi mua thẻ nhớ vì họ bị rơi vào một “mê hồn trận” không biết thật giả ra sao. Và hơn ai hết, chính họ lại là những người “tiền mất tật lại mang”.Vàng thau lẫn lộn

Trong khi tất cả các phụ kiện quan trọng khác đều được nhập chính thức, có nguồn gốc đảm bảo thì thẻ nhớ đi kèm điện thoại hiện nay khá nhập nhằng, lẫn lộn giữa 2 khái niệm thật – giả. Chỉ đối với những thẻ nhớ tặng kèm máy, được phân phối chính thức thì chất lượng và nguồn gốc mới được đảm bảo, còn hầu hết các loại thẻ nhớ dành cho điện thoại di động được bán trên thị trường hiện nay đều có nguồn gốc không rõ ràng. Trừ một số ít loại thẻ dành cho điện thoại Sony Ericsson được bán tại các showroom của hãng này và các Sony shop, còn lại các hãng thẻ nhớ nổi tiếng khác như Kingston, Transcend, SanDisk, Kingmax đều chưa hề có văn phòng đại diện tại Việt Nam, mà thẻ nhớ mang những thương hiệu này chiếm thị phần rất lớn trong thị trường thẻ nhớ.

Theo tìm hiểu của e-Chip MOBILE thì trên thị trường hiện nay, thẻ nhớ dành cho điện thoại thường được làm nhái chiếm phần lớn. Trong đó loại thẻ MicoSD được làm nhái nhiều nhất vì tính thông dụng của nó, sau đó đến 1 số loại thẻ của Sony như MMC , MEMORY STICK DUO… Giá cả của các loại thẻ nhớ này cũng thuộc dạng trên trời dưới biển, thường từ 100.000 -200.000 VND/chiếc (thẻ nhái) và những loại thẻ được coi là “chính hãng” thì có giá đắt gấp đôi, thậm chí gấp 3 lần. Ví dụ như 1 chiếc microSD 1GB Transcend giá là 180.000 VND, trong khi đó hàng nhái chỉ 100.000 VND, MS ProDuo SONY 512 MB giá hàng nhái là 180.000 VND (Kèm Adapter) còn hàng thật có giá 350.000 VND, MS ProDuo SONY 1 GB hàng nhái là 200.000 VND (Kèm Adapter) và hàng thật là 500.000 VND, MS ProDuo SONY 2 GB giá 340.000 VND và giá hàng thật là 680.000 VND…

Tại các siêu thị điện thoại, tình hình có vẻ sáng sủa hơn đôi chút. Với vị thế và uy tín của mình, các siêu thị có khả năng tìm được các đối tác lớn có nguồn hàng ổn định và chất lượng hơn, mặc dù vẫn chưa thể được như các nguồn nhập chính thức khác nhưng trước mắt những siêu thị này đành chấp nhận giải pháp tạm thời này. Một nguồn tin từ hệ thống siêu thị thegioididong cho biết, vì chưa thể tìm được nhà phân phối chính thức các loại thẻ nhớ tại Việt Nam nên họ vẫn đang nhập thẻ nhớ từ các nguồn uy tín khác. Người quản lí siêu thị điện thoại Xuân Hồng (Q.10) cũng cho biết, nguồn thẻ nhớ tại siêu thị của ông luôn có hóa đơn, chứng từ rõ ràng, được nhập từ các nguồn cung lớn. Như vậy, trước khi có những diễn biến khác, các siêu thị lớn hiện nay vẫn phải tự mình đánh giá năng lực nguồn cung, cũng như dùng chính uy tín của mình để đảm bảo chất lượng cho nguồn thẻ mà họ bán ra, dù nguồn thẻ này có xuất xứ từ đâu.

May hơn khôn!

Đứng trước tình trạng thật giả khó lường ấy, khách hàng khi đi mua thẻ nhớ gần như rơi vào một “mê hồn trận”. Nhiều người băn khoăn không biết đâu là thật, đâu là giả, hàng nào tốt hàng nào không. Anh Ngô Quang Vinh (Biên Hòa, Đồng Nai) cho biết anh hiện đang có 1 máy điện thoại Nokia N72, 1 PDA Dell Axim x51v và 1 máy chụp hình Canon A570is.

Trong quá trình sử dụng các thiết bị này anh phải sử dụng nhiều loại thẻ nhớ khác nhau, nhưng đã gặp rất nhiều khó khăn khi đi mua thẻ nhớ. Bởi lẽ thẻ nhớ trên thị trường hiện nay rất nhiều chủng loại, rất nhiều nhãn hiệu, rất nhiều mức giá, có thể mua ở bất cứ cửa hàng điện thoại nào nhưng để mua được 1 thẻ nhớ có chất lượng (thẻ chính hãng) với giá hợp lý là điều rất khó.Bản thân anh đã tham khảo trên rất nhiều trang web về cách phân biệt thẻ nhớ nhưng thật sự cũng vẫn khó khăn khi phân biệt thẻ nhớ thật- giả, nhái như thế nào, cũng như không biết địa chỉ để mua được thẻ nhớ thật (chính hãng) ở đâu. “Có trang web đưa ra con số thống kê cho thấy 70 – 80% thẻ nhớ trên thị trường là hàng giả. Bản thân tôi đã từng vào các cửa hàng điện thoại lớn như cửa hàng thegioididong ở thành phố Biên Hòa, nhưng mẫu thẻ nhớ MMC mobile họ đưa cũng chưa tạo cho tôi sự yên tâm đó là hàng chính hãng vì có một số đặc điểm làm tôi phải nghi ngờ”.

Để tìm hiểu về hiện trạng thị trường thẻ nhớ hiện nay, chúng tôi đã tới một số địa chỉ được coi là “lò” cung cấp thẻ nhớ của Hà Nội. Kết quả là chúng tôi chỉ nhận được những câu trả lời chắc như đinh đóng cột của nhiều chủ cửa hàng: “Thật hay giả dùng được hết. Có thời gian bảo hành tận vài năm cơ mà. Hỏng do lỗi kỹ thuật thì đến đây đổi, sửa miễn phí”. Có chủ cửa hàng nhất quyết khẳng định rằng hàng của mình là chính hãng nhưng khi được hỏi là nhập ở đâu, do nhà phân phối nào cung cấp thì cũng chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Một ông chủ trên Phố Thái Hà đưa ra cho tôi xem 2 chiếc thẻ nhớ MS ProDuo SONY 1 GB một thật một giả (theo lời chủ cửa hàng nhưng tôi nghĩ chính xác hơn là 1 đắt một rẻ).

Quả thực, nhìn ngắm chúng, tôi thấy giống nhau y như tạc và không hề thấy một điểm nào để nhận biết. Người viết bài lắc đầu cười: “Em thấy giống ở cửa khẩu Tân Thanh lắm” thì Ông chủ cửa hàng lại cười lớn hơn: “Cái này này (tức cái rẻ hơn) là ở Trung Quốc, xách tay về đấy, còn cái này này (tức cái đắt tiền hơn) thì là chính hãng, xịn 100%. Nhìn em có vẻ biết nhiều, anh giảm giá”. Nhìn kỹ hơn nữa, chúng tôi mới thấy được một chữ S ở chiếc thẻ nhớ ít tiền in hơi mờ hơn một chút so với cái còn lại. Nhưng từng ấy chi tiết rất khó có thể giúp cho khách hàng phân biệt được thật giả khi đi mua thẻ nhớ. Do vậy, hơn ai hết, khách hàng phải tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về thẻ nhớ, tìm hiểu kỹ loại thẻ mình định mua để tránh bị trở thành những “con lừa” của những chủ cửa hàng thiếu lương tâm.

Vài cách nhận biết thẻ nhớ thật

Thẻ nhớ Sandisk:

- Trên vỏ hộp có tem 3 chiều chống giả.
- Khi nhìn vào tem chống giả từ hướng bên trái, bạn sẽ thấy có 1 chấm ở bên sườn logo SanDisk trong tem.
- Khi nhìn vào tem chống giả từ hướng bên phải, bạn sẽ thấy có 2 chấm ở bên sườn logo SanDisk trong tem.
- Khi nhìn vào tem chống giả theo hướng từ trên xuống, bạn sẽ thấy có 3 chấm ở bên sườn logo SanDisk trong tem.
- Khi nhìn vào tem chống giả theo hướng từ dưới lên, bạn sẽ thấy có 4 chấm ở bên sườn logo SanDisk trong tem.

Thẻ nhớ Kingston:

- Trên nhãn dán ở mặt trước thẻ có vùng tam giác được sơn phản quang. Khi nhìn ở các hướng khác nhau thì tam giác này sẽ đổi màu.
- Trên vỏ hộp sản phẩm có các dãy số để kiểm tra sự tồn tại của sản phẩm.

Bạn có thể truy cập vào website của Kingston www.kingston.com/asia/verifyflash và thực hiện các thao tác sau:

  • Nhập thông tin của thẻ và địa chỉ e-mail của bạn.
  • Nhấn nút Submit.
  • Khoảng 3 phút sau, hòm thư của bạn (vừa khai ở trên) sẽ nhận được thông tin từ hãng xác nhận sản phẩm đó có do Kingston sản xuất hay không.

Lưu ý: Một địa chỉ e-mail chỉ dùng để kiểm tra được một sản phẩm. Nếu bạn dùng hai địa chỉ e-mail khác nhau để kiểm tra cùng một sản phẩm sẽ không thực hiện được.

Thẻ nhớ Transcend

- Tất cả các sản phẩm Transcend nếu là hàng fullbox (có hộp riêng), thì hộp đều được ép nhiệt và phải dùng kéo cắt vỏ hộp để lấy sản phẩm ra. Mã số sản phẩm trên thẻ và trên vỏ hộp phải trùng nhau.
- Tất cả các sản phẩm của Transcend đều có mã sản phẩm in trên thẻ. Bạn có thẻ kiểm tra sự tồn tại của sản phẩm bằng cách truy cập vào website www.transcendusa.com/Support/SerialNo.asp và điền đầy đủ các thông số sản phẩm. Sau khi điền đầy đủ thông tin và ấn nút submit, bạn hãy chờ phản hồi từ nhà sản xuất. Nếu sản phẩm là hàng chính hãng, bạn sẽ nhận được thư phản hồi có chứa thông tin:

Product Description: xxx xxx xxx
Warranty: Life Time Warranty
VD: nhập số Serial Number của thẻ SD 2GB 150x = 5018732082
Product Description: 2GB SD CARD = 7
Warranty: Life Time Warranty

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Feb 29

Bộ nhớ Cache là kiểu bộ nhớ tốc độ cao có bên trong CPU để tăng tốc độ truy cập cho dữ liệu và các chỉ lệnh được lưu trong bộ nhớ RAM. Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách làm việc của bộ nhớ này theo cách dễ hiểu nhất.

Một máy tính sẽ hoàn toàn vô dụng nếu bạn không bắt bộ vi xử lý (CPU) thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Công việc sẽ được thực hiện thông qua một chương trình, chương trình này lại gồm rất nhiều các chỉ lệnh để ra lệnh cho CPU làm việc.

CPU lấy các chương trình từ bộ nhớ RAM. Tuy nhiên có một vấn đề với bộ nhớ RAM đó là khi nguồn nuôi của nó bị cắt thì các thành phần dữ liệu được lưu trong RAM cũng sẽ bị mất – chính điều này nên một số người nói rằng bộ nhớ RAM là một môi trường “dễ bay hơi”. Các chương trình và dữ liệu như vậy phải được lưu trên môi trường không “dễ bay hơi” sau khi tắt máy tính (giống như các ổ đĩa cứng hay các thiết bị quang như đĩa CD và DVD).

Khi kích đúp vào một biểu tượng trong Windows để chạy một chương trình nào đó. Các chương trình thông thường được lưu trên ổ đĩa cứng của máy tính, khi được gọi nó sẽ được nạp vào bộ nhớ RAM sau đó từ bộ nhớ RAM, CPU nạp chương trình thông qua một mạch có tên gọi là memory controller, thành phần này được đặt bên trong chipset (north bridge chip- chíp cực bắc) trên các bộ vi xử lý Intel hoặc bên trong CPU trên các bộ vi xử lý AMD. Trong hình 1 chúng tôi đã tóm tắt sơ qua nguyên tắc làm việc này (với các bộ vi xử lý AMD bạn hãy bỏ qua phần chipset đã được vẽ).


CPU không thể tìm nạp dữ liệu trực tiếp từ các ổ đĩa cứng vì tốc độ truy suất dữ liệu của ổ đĩa cứng là quá thấp với nó, thậm chí nếu nếu bạn có cả ổ đĩa cứng với tốc độ truy suất lớn nhất. Hãy lấy một số ví dụ làm dẫn chứng cho điều này, ổ cứng SATA-300 – một loại ổ đĩa cứng có tốc độ nhanh nhất hiện đang được cung cấp ngày nay đến phần lớn người dùng – có tốc độ truyền tải theo lý thuyết là 300 MB/s. Một CPU chạy với tốc độ 2GHz với đường dữ liệu* 64-bit sẽ truyền tải dữ liệu bên trong với tốc độ 16GB/s – như vậy là lớn gấp 50 lần.

- Đường dữ liệu: Các đường giữa các mạch bên trong CPU. Chỉ cần một phép toán đơn giản bạn cũng có thể biết được rằng mỗi CPU có một số đường dữ liệu khác nhau bên trong, mỗi một đường trong chúng lại có chiều dài khác nhau. Ví dụ với các bộ vi xử lý AMD thì đường dữ liệu giữa L2 memory cache và L1 memory cache có độ rộng 128-bit, trong khi đó của Intel là 256-bit. Đây chỉ là giải thích con số mà chúng tôi đã công bố trong đoạn trên không cố định, nhưng dẫu sao CPU luôn nhanh hơn rất nhiều so với các ổ đĩa cứng.

Sự khác nhau trong tốc độ cũng bắt nguồn từ một thực tế đó là các ổ đĩa cứng còn bao gồm cả hệ thống cơ khí, các hệ thống cơ khí này bao giờ cũng chậm hơn hệ thống điện tử thuần túy, các thành phần cơ khí phải chuyển động để dữ liệu mới có thể được đọc ra (điều này chậm hơn rất nhiều so với việc chuyển động của điện tử). Hay nói cách khác, bộ nhớ RAM là 100% điện tử, có nghĩa là nó sẽ nhanh hơn tốc độ của ổ đĩa cứng và quang.

Tuy nhiên đây chính là vấn đề, thậm chí bộ nhớ RAM nhanh nhất cũng không nhanh bằng CPU. Nếu bạn sử dụng các bộ nhớ DDR2-800, chúng truyền tải dữ liệu ở tốc độ 6.400 MB/s – 12.800 MB/s nếu sử dụng chế độ hai kênh. Thậm chí con số này còn có thể lên đến 16GB/s trong ví dụ trước, vì các CPU hiện nay còn có thể tìm nạp dữ liệu từ L2 memory cache ở tốc độ 128- bit hay 256-bit, chúng ta đang nói về 32 GB/s hoặc 64 GB/s nếu CPU làm việc bên trong với tốc độ 2GHz. Bạn không nên lo lắng về những vấn đề với “L2 memory cache”, chúng tôi sẽ giải thích vấn đề này sau. Tất cả những gì bạn cần nhớ là bộ nhớ RAM chậm hơn CPU.

Bằng cách đó, tốc độ truyền tải có thể được tính bằng sử dụng công thưc dưới đây (trong tất cả các ví dụ từ đầu tới giờ, “dữ liệu trên một clock” vẫn được tính bằng “1″):

[Tốc độ truyền tải] = [Độ rộng (số lượng bít)] x [tốc độ clock] x [dữ liệu trên một clock] / 8

Vấn đề không chỉ dừng lại ở tốc độ truyền tải mà còn cả độ trễ. Độ trễ (thời gian truy cập) là lựợng thời gian mà bộ nhớ giữ chậm trong việc chuyển ngược trở lại dữ liệu mà CPU đã yêu cầu trước đó – điều này không thể thực hiện được ngay lập tức. Khi CPU yêu cầu chỉ lệnh (hoặc dữ liệu) được lưu tại một địa chỉ nào đó thì bộ nhớ sẽ giữ chậm một khoảng thời gian để phân phối lệnh này (hoặc dữ liệu) trở ngược lại. Trên các bộ nhớ hiện nay, nếu nó được dán nhãn có CL bằng 5 (CAS Latency, đây chính là độ trễ mà chúng ta đang nói đến) thì điều đó có nghĩa rằng bộ nhớ sẽ cung cấp dữ liệu đã được yêu cầu sau 5 chu kỳ clock nhớ – nghĩa là CPU sẽ phải chờ đợi.

Việc chờ đợi sẽ làm giảm hiệu suất của CPU. Nếu CPU phải đợi đến 5 chu kỳ clock để nhận được chỉ lệnh hoặc dữ liệu mà nó đã yêu cầu thì hiệu suất của nó sẽ chỉ còn 1/5 so với hiệu suất sử dụng bộ nhớ có khả năng cung cấp dữ liệu tức thời. Nói theo cách khác, khi truy cập bộ nhớ DDR2-800 với CL5 thì hiệu suất của CPU bằng với hiệu suất của CPU làm việc với bộ nhớ 160 MHz (800 MHz / 5) với khả năng cung cấp dữ liệu tức thời. Trong thế giới thực, việc giảm hiệu suất không nhiều vì các bộ nhớ làm việc dưới chế độ có tên gọi là chế độ truyền loạt (burst mode), ở nơi mà dữ liệu được tập trung lần thứ hai có thể được cung cấp một cách ngay lập tức, nếu dữ liệu này được lưu trên một địa chỉ nối tiếp nhau (thường thì chỉ lệnh của chương trình nào đó được lưu trong các địa chỉ liên tục). Điều này được diễn tả bằng công thức “x-1-1-1″ (có nghĩa “5-1-1-1″ là cho bộ nhớ dùng trong ví dụ của chúng ta), có nghĩa là dữ liệu đầu tiên được cung cấp sau 5 chu kỳ xung clock, nhưng từ dữ liệu thứ hai trở đi thì chúng được cung cấp chỉ trong một chu kỳ clock – nếu nó được lưu trên địa chỉ liên tiếp giống như những gì chúng ta đã nói.

RAM động và Ram tĩnh

Có hai kiểu bộ nhớ RAM đó là RAM động (DRAM) và RAM tĩnh (SRAM). Bộ nhớ RAM đã sử dụng trên các máy tính là loại RAM động. Kiểu RAM này, mỗi bit dữ liệu được lưu bên trong chip nhớ bằng một tụ điện nhỏ, các tụ điện này là thành phần rất nhỏ, nghĩa là có đến hàng triệu tụ điện trên một vùng diện tích mạch điện nhỏ, điều này vẫn được người ta gọi là “mật độ cao”. Các tụ điện này có thể bị mất điện áp tích tụ sau một thời gian, chính vì vậy các bộ nhớ động cần phải có quá trình nạp lại, quá trình này vẫn thường được chúng ta gọi là “làm tươi” (refresh). Trong suốt chu kỳ này dữ liệu không thể được đọc ra hoặc được ghi vào. Bộ nhớ động rẻ hơn so với bộ nhớ tĩnh và cũng tiêu thụ ít năng lượng hơn bộ nhớ tĩnh. Tuy nhiên như chúng ta đã biết, trên RAM động, dữ liệu không được cung cấp một cách sẵn sàng và nó có thể không làm việc nhanh bằng CPU.

Với bộ nhớ tĩnh, đây là kiểu bộ nhớ có thể làm việc nhanh bằng CPU, vì mỗi bit dữ liệu đều được lưu trên một mạch có tên gọi flip-flop (F-F), mỗi một F-F này lại có thể cung cấp dữ liệu với độ trễ rất nhỏ, vì các F-F không yêu cầu đến chu trình làm tươi. Vấn đề ở đây là các F-F này lại yêu cầu một số transistor, có kích thước to hơn so với một tụ điện trên RAM động. Điều này có nghĩa là trên cùng một diện tích giống nhau, nơi mà ở bộ nhớ tĩnh chỉ có một F-F tồn tại thì trên bộ nhớ động sẽ có đến hàng trăm tụ điện. Chính vì vậy các bộ nhớ tĩnh thường có mật độ thấp hơn – các chíp có dung lượng thấp hơn. Hai vấn đề khác với bộ nhớ tĩnh nữa là: nó thường đắt hơn nhiều và tiêu tốn nhiều năng lượng hơn (do đó nóng hơn) so với bộ nhớ tĩnh.

Trong bảng dưới đây, chúng tôi có tóm tắt các sự khác nhau chính giữa RAM động (DRAM) và RAM tĩnh (SRAM).

Tính năng RAM động (DRAM) RAM tĩnh (SRAM)
Mạch trữ điện Tụ điện Flip-flop
Tốc độ truyền tải Thấp hơn CPU Bằng với CPU
Độ trễ Cao Thấp
Mật độ Cao Thấp
Tiêu tốn năng lượng Thấp Cao
Giá thành Rẻ Đắt

Mặc dù Ram tĩnh có tốc độ nhanh hơn RAM động nhưng những nhược điểm của nó vẫn ngăn cản nó trở thành RAM chính.

Giải pháp đã tìm thấy để giảm sự ảnh hưởng trong việc sử dụng bộ nhớ RAM chậm hơn CPU là sử dụng một số lượng nhỏ các RAM tĩnh giữa CPU và bộ nhớ RAM. Công nghệ này được gọi là bộ nhớ Cache và ngày nay có một số lượng nhỏ bộ nhớ tĩnh này được đặt bên trong CPU.

Bộ nhớ Cache copy hầu hết các dữ liệu đã được truy cập gần đây từ bộ nhớ RAM vào bộ nhớ tĩnh và đoán dữ liệu gì CPU sẽ hỏi tiếp theo, tải chúng đến bộ nhớ tĩnh trước khi CPU yêu cầu thực sự. Mục đích là làm cho CPU có thể truy cập vào bộ nhớ Cache thay vì truy cập trực tiếp vào bộ nhớ RAM, vì nó có thể truy vấn dữ liệu từ bộ nhớ Cache một cách tức thời hoặc cũng hầu như ngay lập tức thay vì phải đợi khi truy cập vào dữ liệu được đặt trong RAM. CPU càng truy cập vào Cache nhớ thay cho RAM nhiều hơn thì hệ thống sẽ càng hoạt động nhanh hơn. Cũng theo đó, chúng ta sẽ sử dụng hoán đổi hai thuật ngữ “dữ liệu” và “chỉ lệnh” cho nhau vì những gì được lưu bên trong mỗi địa chỉ nhớ không có gì khác biệt đối với bộ nhớ.

Chúng tôi sẽ giải thích một cách chính xác cách Cache nhớ làm việc như thế nào ở phần tiếp theo của bài. Mời các bạn chờ đọc phần sau!

Văn Linh (Theo Hardwaresecrets)

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 19

Đối lập lại với những gì mà rất nhiều người vẫn nghĩ, Centrino không chỉ là bộ vi xử lý cho các máy tính laptop mà còn là một nền tảng gồm tập hợp các thành phần đặc trưng của Intel như: processor, chipset, và mạng không dây. Một laptop chỉ có thể được gọi là Centrino khi nó có ba thành phần này. Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số thế hệ của Centrino và sự khác nhau giữa chúng.

4 thế hệ của nền tảng Centrino

Nền tảng đầu tiên của Centrino có tên mã là Carmel, đây là nền tảng được phát hành vào tháng 3 năm 2003 và được dựa trên công nghệ đã có trước đó từ các CPU Pentium M (với lõi Banias), Intel 855 Express chipset và Intel PRO/Wireless 2100 (802.11b) wireless network.

Vào tháng 7 năm 2004, Intel cho ra đời thế hệ thứ hai của nền tảng Centrino, nền tảng này cũng được biết đến với tên mã của nó là Sonoma. Đây là thế hệ được dựa trên công nghệ CPU Pentium M (lõi Dothan), Intel 915 Express chipset và Intel PRO/Wireless 2200 hay 2915ABG (802.11a/b/g) wireless network.

Thế hệ thứ ba của Centrino được đưa ra với các máy tính notebook với sức mạnh của việc xử lý dual-core. Thế hệ này cũng được biết đến với tên mã là Napa, là nét đặc biệt của bộ vi xử lý Core Duo (lõi Yonah) hay Core 2 Duo (lõi Merom) , Intel 945 Express chipset và Intel PRO/Wireless 3945ABG (802.11a/b/g) wireless network. Cũng có một phiên bản khác cho nền tảng “Napa” Centrino đó là dựa trên CPU Core Solo, đây là loại CPU chỉ có một lõi xử lý, giống như Pentium M. Từ thế hệ thứ ba của nó, nền tảng Centrino n đã bắt đầu với tên gọi Centrino Duo để chỉ thị rằng việc xuất hiện dual-core CPU đã được sử dụng trong nó.

Thế hệ thứ tư xuất hiện với tên mã Santa Rosa có trong hai phiên bản Centrino Duo và Centrino Pro. Sự khác biệt cơ bản giữa chúng là Centrino Pro có công nghệ quản lý từ xa dựa trên phần cứng gọi là Intel Active Management Technology (Intel AMT), công nghệ này cho phép bạn có thể nhận dạng các vấn đề và giải quyết được từ xa nếu máy tính kết nối với mạng, thậm chí nếu máy tính đang ở trong chế độ tắt (Lưu ý: máy tính phải được kết nối với mạng và được kết nối với nguồn điện).

Với phát hành Centrino “Santa Rosa” thành phần thứ tư được bổ sung thêm vào nền tảng Centrino, nột cache đĩa tích hợp bằng bộ nhớ flash để tăng hiệu suất hệ thống và tiết kiệm năng lượng tiêu thụ. Thành phần thứ tư này được gọi là Intel Turbo Memory, cũng được biết đến với công nghệ Robson, Centrino Pro và phiên bản mới của Centrino Duo được dựa trên bộ vi xử lý Core 2 Duo, Intel 965 Express chipset, Intel PRO/Wireless 4965AGN (802.11a/g/n) wireless network và công nghệ Intel Turbo Memory.

Bảng dưới đây là những gì chúng tôi tổng hợp từ các chi tiết kỹ thuật của các thế hệ Centrino:

Nền tảng

Centrino Pro

Centrino Duo

Centrino Duo

Centrino

Centrino

Centrino

Tên mã

Santa Rosa

Santa Rosa

Napa

Napa

Sonoma

Carmel

Bộ vi xử lý

Core 2 Duo

Core 2 Duo

Core Duo (Yonah)

Core 2 Duo (Meron)

Core Solo

Pentium M (Dothan)

Pentium M (Banias)

Chipset

Intel 965 Express

Intel 965 Express

Intel 945 Express

Intel 945 Express

Intel 915 Express

Intel 855

Wireless

Network Intel PRO / Wireless 4965AGN

Intel PRO / Wireless 4965AGN

Intel PRO / Wireless 3945ABG

Intel PRO / Wireless 3945ABG

Intel PRO / Wireless 2200BG
Intel PRO / Wireless 2915ABG

Intel PRO / Wireless 2100

Một số ví dụ

Như chúng tôi đã nói, máy tính laptop chỉ có thể được gọi là máy tính Centrino nếu nó có đủ cả ba thành phần (hoặc bốn) được thiết kế bởi Intel, theo bảng tóm tắt các chi tiết kỹ thuật ở trên. Nếu một máy notebook có CPU Core Duo nhưng không có Intel PRO/Wireless 3945ABG wireless network, thì nó vẫn không được gọi là Centrino.

Ở đây người dùng rất hay có sự nhầm lẫn rằng đã thừa nhận bộ vi xử lý Celeron M thuộc về nền tảng Centrino. Điều này hoàn toàn sai. Các notebook Celeron M không phải là máy tính Centrino. Ví dụ như máy tính Satellite A105-S2236 của Toshiba không phải là một laptop Centrino, tuy nhiên nó vẫn được cấu thành từ Celeron M, Radeon Xpress 200M chipset và Atheros Wireless LAN (802.11b/g). Hay nói Satellite A105-S4547 của Toshiba là một laptop Centrino vì nó có Core Duo processor, Intel 945 Express chipset và Intel PRO/Wireless 3945ABG wireless network, đây là những thành phần yêu cầu cho một notebook để nó được gọi là Centrino Duo.

Một số đại lý bán hàng đã đưa ra thuật ngữ “Celeron Centrino”. Tuy nhiên nền tảng thực sự này không tồn tại mà đó chỉ là khái niệm hoàn toàn không đúng.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 19

Có lẽ đến nay những cái tên như Core Duo đã được mọi người biết đến khá nhiều, tuy nhiên chúng tôi vẫn muốn giới thiệu để các bạn có được một số kiến thức cơ bản về phần cứng mà có lẽ đã sử dụng nhưng chưa thực sự biết hết những ưu nhược điểm của nó.

Core Duo (được biết đến với tên mã là Yonah) là CPU dual-core đầu tiên của Intel nhằm cho thị trường di động, nghĩa là bên trong nó có hai CPU hoàn thiện. Kỳ lạ ở chỗ nó cũng là bộ vi xử lý đầu tiên của Intel được chấp nhận bởi Apple Computer. Trong bài này, chúng tôi sẽ thể hiện những tính năng chính của Core Duo và Core Solo cùng với bảng các mô hình đã phát hành.

Hãy cẩn thận đừng nhầm lẫn giữa Core Duo với Core 2 Duo. Core Duo là một tên thương mại cho Pentium M processor có hai lõi xử lý và được sản xuất dưới công nghệ 65 nm, còn Core 2 Duo là tên thương mại cho bộ vi xử lý có tên mã là Merom (cho các máy laptop) hoặc Conroe (cho các máy desktop), sử dụng kiến trúc mới lõi siêu nhỏ, đây là kiến trúc tương tự như kiến trúc siêu nhỏ được sử dụng trong Pentium M nhưng có thêm nhiều tính năng được bổ sung mới.

Trong thực tế Core Duo là một bộ vi xử lý Pentium M với hai lõi và được sản xuất bằng công nghệ 65-nm (Pentium M hiện đang được sản xuất bằng công nghệ 90nm). Để có được sự am hiểu hơn về Core Duo, chúng tôi khuyên bạn nên đọc các hướng dẫn về công nghệ Dual Core và kiến trúc Inside Pentium M của Intel để từ đó có thể so sánh Core Duo với Pentium M.

Có một ưu điểm có thể thấy ngay được ở đây là mặc dù có đến hai CPU bên trong cùng một gói nhưng kích thước chân của Core Duo hầu như tương tự với Pentium M. Điều này có nghĩa rằng chi phí cho việc sản xuất Core Duo cũng tương đương như Pentium M – chip một lõi. Core Duo có đến 151,6 triệu transistor và chiếm đến một vùng diện tích 90.3 mm2, trong khi đó Pentium M có 140 triệu transistor chiếm diện tích 87.66 mm2. Ở đây bạn cần nhớ rằng Core Duo được sản xuất dưới công nghệ 65-nm trong khi đó Pentium M được sản xuất dưới công nghệ 90nm.

L2 memory cache của Core Duo là 2MB và được chia sẻ giữa hai lõi của nó (Intel gọi đó là L2 thực thi “Smart Cache”). Ví dụ trên Pentium D 840, một dual-core CPU, L2 memory cache 2 MB của nó được chia đều cho hai lõi vì vậy mỗi lõi chỉ có thể truy cập 1MB. Điều đó có nghĩa là Pentium D có hai L2 memory cache 1MB trên mỗi lõi. Trên Core Duo chỉ có một cache 2MB, cache này được chia sẻ giữa hai lõi. Cũng như vậy Core 2 Duo sử dụng kiến trúc tương tự như kiến trúc được giới thiệu trong Core Duo.

Với một cache nhớ chia sẻ, số lượng cache nhớ mà mỗi lõi sử dụng không bị cố định. Cùng với đó là 2MB cache nhớ nên một lõi này có thể sử dụng đến 1,5MB còn lõi kia sử dụng 512KB còn lại tại một thời điểm nào đó (ví dụ như vậy). Nếu trên một CPU dual-core với hai cache nhớ L2 biệt lập thì lúc này sẽ bị thiếu bộ nhớ cache vì chúng chỉ có trên mỗi lõi 1MB, chính vì vậy nó cần phải truy cập trực tiếp vào bộ nhớ chậm hơn đó là RAM để tìm nạp dữ liệu cần thiết, chính điều đó làm giảm hiệu suất của hệ thống. Trên các CPU có cache chia sẻ, mỗi lõi có thể cấu hình lại kích thước một cách đơn giản về số lượng cache nhớ mà nó đang sử dụng.

Một ưu điểm khác về cache nhớ L2 chia sẻ là nếu một lõi đã tìm nạp dữ liệu (hoặc một lệnh) và đã lưu nó trên cache L2 thì lõi kia có thể sử dụng những thông tin đó. Trong các CPU dual-core với cache tách biệt thì lõi thứ hai kia vẫn phải lặp lại quá trình mà lõi thứ nhất đã thực hiện, chính vì vậy sẽ làm giảm hiệu suất của hệ thống.

Các tính năng chính của Core Duo được liệt kê dưới đây:

* Công nghệ Dual-core
* Tên mã: Yonah
* Có đến 151,6 triệu transistor trên bề mặt diện tích là 90.3 mm2
* 32 KB cache lệnh L1 và 32 KB cache L1 dữ liệu
* 2 MB cache nhớ L2 chia sẻ giữa hai lõi
* Socket 478 hoặc 479
* Công nghệ sản xuất 65nm
* Bus mở rộng 667 MHz (166 MHz cho việc truyền tải bốn lần trên mỗi chu kỳ xung nhịp) và 533 MHz (133 MHz cho việc truyền tải bốn lần trên mỗi chu kỳ xung nhịp).
* Công nghệ ảo hóa
* Công nghệ vô hiệu hóa thực thi
* Công nghệ SpeedStep nâng cao
* Hỗ trợ tập lệnh SSE3

Các mô hình của Core Duo

Bảng dưới đây bạn sẽ thấy được tất cả các mô hình của Core Duo đã được phát hành.

Mô hình

sSpec

Internal Clock

External Clock

TDP

Điện áp

Nhiệt độ tối đa (º C)

T2700

SL9JP

2.33 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2700

SL9K4

2.33 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T2600

SL9JN

2.16 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2600

SL8VN

2.16 GHz

667 MHz

31 W

1.25V – 1.4V

100

T2600

SL8VS

2.16 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T2600

SL9K3

2.16 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2500

SL9K2

2 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2500

SL9EH

2 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2500

SL8VT

2 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2500

SL8VP

2 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2400

SL8VU

1.83 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T2400

SL9JM

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2400

SL9JZ

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

L2500

SL9JU

1.83 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

T2400

SL8VQ

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.25V – 1.4V

100

L2400

SL8VW

1.66 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

T2300

SL8VV

1.66 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T2300

SL8VR

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.25V – 1.4V

100

T2300E

SL9DM

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2300E

SL9DN

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T2300E

SL9JE

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

L2400

SL9JT

1.66 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

T2300

SL9JL

1.66 GHz

667 MHz

31 W

-

100

L2300

SL9JS

1.50 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

L2300

SL8VX

1.50 GHz

667 MHz

15 W

0.950V-1.175V

100

U2500

SL99V

1.20 GHz

533 MHz

9 W

0.9375V-1.175V

100

U2400

SL99W

1.06 GHz

533 MHz

9 W

0.9375V-1.175V

100

Các mô hình của Core Solo

Core Solo là một phiên bản Core Duo nhưng chỉ có một lõi xử lý. Ngoài ra nó cũng có tất cả chi tiết kỹ thuật khác như 2 MB cache nhớ, công nghệ sản xuất 65 nm, ảo hóa, vô hiệu hóa thực thi và SpeedStep nâng cao, hỗ trợ tập lệnh SSE3 và Bus mở rộng 533 hay 667 MHz

Bảng dưới đây là tất cả các mô hình của Core Solo đã được phát hành.

Mô hình

sSpec

Internal Clock

External Clock

TDP

Điện áp

Nhiệt độ tối đa (º C)

T1400

SL92X

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T1400

SL92V

1.83 GHz

667 MHz

31 W

1.1625V – 1.30V

100

T1400

SL9L5

1.83 GHz

667 MHz

31 W

-

100

T1300

SL8W3

1.66 GHz

667 MHz

31 W

-

100

1300

SL8VY

1.66 GHz

667 MHz

31 W

1.25V-1.4V

100

T1300

SL9L4

1.66 GHz

667 MHz

31 W

-

100

U1400

SL8W6

1.20 GHz

533 MHz

5.5 W

0.950V-0.975V

100

U1300

SL8W7

1.06 GHz

533 MHz

5.5 W

0.950V-0.975V

100

Core Duo và Core Solo là các thành phần của nền tảng Centrino. Để bạn đọc có thể biết về nền tảng công nghệ Centrino, bạn đọc có thể tham khảo bài Nền tảng công nghệ Centrino trong các CPU.

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)
Jan 18

Các bộ vi xử lý nền tảng kiến trúc AMD64 – như Athlon 64, Athlon 64 X2, Athlon 64 FX, Opteron, Sempron và Phenom – có hai bus ngoài. Một được sử dụng cho việc truyền thông giữa CPU và bộ nhớ được gọi là “memory bus”, bus kia được sử dụng cho việc truyền thông giữa CPU và tất cả các thành phần khác của máy tính thông qua chipset của bo mạch chủ và được gọi là HyperTransport – I/O (Input/Output) bus. Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách HyperTransport bus làm việc và nêu ra một số lỗi mà người dùng thường hiểu nhầm đối với bus này.

Đối với tất cả các bộ vi xử lý khác – gồm có bộ vi xử lý AMD không dựa trên kiến trúc AMD64 (như các bộ vi xử lý Athlon, Athlon XP và Sempron socket 462) – CPU này chỉ có một bus ngoài, chúng cũng được biết đến như front side bus (FSB). Đối với phương pháp này, bus ngoài chịu trách nhiệm cho cả việc truyền thông I/O và bộ nhớ.

Về mặt lý thuyết, kiến trúc được sử dụng cho các bộ vi xử lý AMD64 tốt hơn, theo lý thuyết, chúng có thể truyền thông với bộ nhớ và với các thành phần máy tính khác (như video card) tại cùng một thời điểm, điều không thể đối với các bộ vi xử lý khác chỉ có một đường dữ liệu bên ngoài.

Trên hình 1 bạn có thể xem cách một bộ vi xử lý AMD64 truyền thông với thế giới bên ngoài thế nào. Chip “bridge” là chipset của bo mạch chủ. Phụ thuộc vào chipset bạn có thể có một hoặc hai chip. Đối với các giải pháp 2 chip, tất cả thiết bị ngoại vi (như ổ đĩa cứng, các card bổ sung, sound card,…) đều được kết nối đến chip thứ hai (chip thứ hai này được gọi là cầu nối phía Nam, không hiển thị trong hình 1), trong khi các giải pháp đơn chip, mọi thứ đều được kết nối đến chip đơn này.


Hình 1: Vị trí của HyperTransport bus trên bộ vi xử lý AMD64. Nguồn: Hardwaresecrets

Các CPU AMD dành cho các máy chủ – ví dụ như bộ vi xử lý Opteron – có thể có một, hai hoặc 3 HyperTransport bus, phụ thuộc vào từng mô hình. Các bus mở rộng này được sử dụng để kết nối với một số CPU để cho phép chúng có thể trao đổi với nhau, nghĩa là được sử dụng trên các máy chủ có nhiều CPU trên bo mạch chủ. Các CPU của máy desktop và notebook không hỗ trợ kiểu cấu hình này vì chỉ có một HyperTransport bus trên chúng.

Trong bài này chúng ta có nhắc nhiều đến kiến trúc AMD64 nhưng sẽ không giới thiệu sâu về kiến trúc này, mà sẽ dành riêng một bài khác để có thể giới thiệu được chi tiết hơn.

Bên cạnh việc cung cấp các bộ vi xử lý AMD64 với các đường dữ liệu riêng biệt cho bộ nhớ và I/O, HyperTransport còn có những ưu điểm khác: nó cung cấp các liên kết riêng cho các hoạt động vào, ra của CPU, cho phép CPU có thể gửi (ghi) và nhận (đọc) dữ liệu I/O tại cùng một thời điểm (nghĩa là song song). Đối với kiến trúc truyền thống sử dụng bus ngoài đơn thì bus được sử dụng cho cả hoạt động vào và ra nên việc đọc và ghi không thể được thực hiện đồng thời.


Hình 2: HyperTransport bus cung cấp các đường dữ liệu vào/ra riêng biệt. Nguồn: Hardwaresecrets

HyperTransport 1.x

HyperTransport bus có thể hoạt động dưới một vài cấu hình clock và độ rộng (nghĩa là số bit được truyền mỗi lần). Đây có thể là vấn đề gây ra nhiều hiểu sai và lỗi về HyperTransport.

HyperTransport là một bus được tạo bởi sự cộng tác sản xuất của một vài nhà máy, bao gồm AMD, nVidia và Apple. Bus này có thể được sử dụng trên một số ứng dụng và nó không bị hạn chế đối với các bộ vi xử lý của AMD.

Điều đó có nghĩa rằng cấu hình thực của HyperTransport bus sẽ phụ thuộc vào các chuyên gia phát triển phần cứng.

Một số chuyên gia phát triển tuyên bố về tốc độ truyền tải một cách quá mức của HyperTransport bus mà họ đang sử dụng.

Các bộ vi xử lý AMD64 hiện hành sử dụng HyperTransport 1 (HT1) hay HyperTransport 2 (HT2), và các bộ vi xử lý AMD sắp tới sử dụng HyperTransport 3 (HT3). Trong tất cả các trường hợp này, bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit, thậm chí HyperTransport còn cho phép sử dụng các liên kết 32bit.

HyperTransport 1 được sử dụng trên tất cả các socket 754 và socket AM2 Sempron (các bộ vi xử lý AM2 sử dụng HyperTransport 2.0).

Đây là một phân tích thống kê về tất cả các tốc độ truyền tải và clock có thể đối với HyperTransport 1.x (nghĩa là được cung cấp trên socket 754):

*
200 MHz = 400 MT/s = 800 MB/s
*
400 MHz = 800 MT/s = 1.600 MB/s
*
600 MHz = 1.200 MT/s = 2.400 MB/s
*
800 MHz = 1.600 MT/s = 3.200 MB/s

HyperTransport truyền tải 2 dữ liệu trên mỗi một chu kỳ clock, khái niệm đã được biết đến như DDR, tốc độ dữ liệu kép. Công thức để tìm ra tốc độ truyền tải lớn nhất theo lý thuyết là:

Tốc độ truyền tải = độ rộng xung (số bit) x clock x số đơn vị dữ liệu trên mỗi chu kỳ/ 8.

Như vậy với các bộ vi xử lý socket 754, HyperTransport bus có thể làm việc đến 800 MHz hay 3.200 MB/s.

- Nói tốc độ clock được sử dụng bởi HyperTransport 1.x là 1.600 MHz bởi vì mỗi một chu kỳ clock hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được tương đương với tốc độ clock 1.600 MHz chỉ truyền tải một dữ liệu trên chu kỳ clock. Cuối cùng tốc độ truyền tải sẽ như nhau, như công thức ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock”, nó sẽ sử dụng là “1”. Điều này cũng xảy ra tương tự với DDR và các bộ nhớ mới hơn có tốc độ clock tuyên bố là gấp đôi tốc độ clock thực (nghĩa là các bộ nhớ DDR2-800 làm việc thực tế là 400MHz nhưng truyền tải hai dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock).

- AMD nói rằng tốc độ clock là 1.600MT/s. MT/s là viết tắt của cụm Mega Transfers per Second hay hàng triệu truyền tải trong một giây. Đây mới là đúng cách để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên giây bằng tốc độ clock nhân với số lần dữ liệu truyền tải trên mỗi chu kỳ.

Nói rằng tốc độ truyền tải lớn nhất của HyperTransport 1.x là 6.400 MB/s. Điều đó là bởi vì tốc độ truyền tải đã được tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (nghĩa là 3.200MB/s cho đường dẫn đầu vào và 3.200MB/s cho đường dẫn đầu ra), chính vì vậy một số người đã đơn giản hóa bằng cách nhân tốc độ truyền tải lên hai để dùng chung cho cả hai đường dữ liệu. Chúng tôi không đồng ý với ý tưởng này vì nói như thể cũng giống như nói rằng tốc độ tối đa của một đường cao tốc nào đó là 130Km/h thì mỗi một chiều chỉ có 65Km/h, điều này quả thực rất dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác nói rằng bus ngoài hoặc FSB của Athlon 64 (hoặc các CPU dựa trên AMD64 nào đó) là 16.00MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Bạn cũng cần biết một điều rằng các bộ vi xử lý AMD có thể làm việc với một tốc độ clock dưới tốc độ đã tuyên bố 1.600 MT/s (800 MHz). Thực tế rằng chúng có thể làm việc ở bất kỳ tốc độ nào trong danh sách đã công bố ở trên.

Chipset có thể nhận ra tốc độ clock thấp hơn với CPU và thậm chí một bước 8bit thay vì 16bit. Trong thực tế, khi các chipset Athlon 64 đầu tiên mới ra đời, VIA đã tuyên bố rằng chipset của họ cho Athlon 64, K8T800 có nhiều ưu điểm hơn để cạnh trạnh với HyperTransport bus ở tốc độ 1.600MT/s khi không làm việc ở tốc độ truyền tải cực đại.

Tại website chính thức của HyperTransport, bạn sẽ thấy rằng họ tuyên bố tốc độ truyền tải lớn nhất là 12,8 GB/s đối với HyperTransport 1.x. Tốc độ truyền tải lớn nhất này được thực hiện bằng cách sử dụng các liên kết 32bit – vì các bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit. Nếu làm một phép toán bạn sẽ nhận được kết quả 6.400 MB/s (32 bits x 800 MHz x 2 / 8). Đây là một sự hợp tác gấp đôi tốc độ lớn nhất chỉ vì có hai đường dữ liệu được cung cấp (một cho phát và một cho nhận). Như chúng tôi đã nói trước, chúng tôi không đồng ý với quan niệm tính toán tốc độ truyền tải như vậy.

HyperTransport 2.0

HyperTransport 2.0 bổ sung thêm một số tốc độ clock mới – tốc độ truyên tải mới và tính năng mới, bản đồ hóa PCI Express, đây là tính năng sẽ giúp giao tiếp giữa HyperTransport và PCI Express – hay nói theo cách khác, làm cho nó dễ dàng hơn đối với các CPU khi giao tiếp với thiết bị PCI Express.

Tốc độ truyền tải và clock mới giới thiệu trong HyperTransport 2.0 được cho dưới đây, thừa nhận các liên kết 16bit (là cấu hình được sử dụng bởi bộ vi xử lý AMD):

*
1.000 MHz = 2.000 MT/s = 4.000 MB/s
*
1.200 MHz = 2.400 MT/s = 4.800 MB/s
*
1.400 MHz = 2.800 MT/s = 5.600 MB/s

Các thiết bị HyperTransport 2.0 cũng có thể làm việc với tốc độ truyền tải của HyperTransport 1.x.

AMD sử dụng HyperTransport 2.0 trên tất cả các CPU AMD64 sockets 939 và AM2 (ngoại trừ trên các CPU Sempron, CPU sử dụng HyperTransport 1.0), mặc dù vậy chỉ hỗ trợ tốc độ HT2 thấp hơn – trong thực tế AMD được quan tâm đến nhiều hơn trong tính năng bản đồ hóa PCI Express so với mặt tốc độ truyền tải cao. Tuy vậy các bộ vi xử lý này dựa trên tốc độ truyền tải lớn nhất của các liên kết HT2 là 4.000 MB/s

Để làm cho một số thứ bớt lộn xộn, AMD sử dụng lại vài lần tên “HT1” để miêu tả HyperTransport bus của CPU có các liên kết HyperTransport của họ đang làm việc ở tốc độ 1.000 MHz. Điều này có thể tránh người dùng thừa nhận rằng chỉ các phần của HT2 mới có thể làm việc đến tốc độ 1.400 MHz (5.600 MB/s).

Một số người cho rằng liên kết 1.000 MHz/4.000 MB/s HyperTransport này được sử dụng bởi các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 với:

- 2.000 MHz. Điều này có lẽ là vì trên mỗi một chu kỳ clock có hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được sẽ bằng với tốc độ clock 2.000MHz đang được truyền tải chỉ một dữ liệu trên chu kỳ. Kết quả cuối cùng đều như nhau, như công thức được thể hiện ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên số chu kỳ clock” thì lúc này là “1”. Điều tương tự cũng xảy ra đối với DDR và các bộ nhớ sau này.

- 2.000 MT/s. Đây là tốc độ truyền tải chính thức của AMD. Tên viết tắt của thuật ngữ này đã được giới thiệu trong phần trên. Đây là cách đúng đắn để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên mỗi giây bằng số tốc độ clock nhân với số lượng dữ liệu được truyền tải trên mỗi chu kỳ.

- 8.000 MB/s. Điều này xảy ra vì tốc độ truyền tải đã tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (có nghĩa là 4.000 MB/s cho mỗi đường dữ liệu vào ra riêng biệt). Phần này cũng như phần trước mà chúng tôi đã đề cập, và chúng tôi cũng đã bày tỏ quan điểm không đồng ý với quan niệm này, quan niệm dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác là nói rằng bus ngoài hay FSB (Front Side Bus) của Athlon 64 (hay của bất kỳ CPU dựa trên AMD64 nào) là 2.000MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Cũng giống như HyperTransport 1.x bạn cần phải lưu ý rằng các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 có thể làm việc với bất kỳ tốc độ clock nào dưới 1.000 MHz.

Một lần nữa các giá trị chính thức cho HyperTransport 2.0 lại được thổi phồng lên như trong một tuyên bố rằng chúng sử dụng các liên kết 32bit và nhân 2 vì có hai liên kết được cung cấp (một cho phát và một cho nhận dữ liệu). Và cũng vậy, chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm này.

HyperTransport 3.0

Bên cạnh việc bổ sung thêm tốc độ clock – tốc độ truyền tải mới – HyperTransport 3.0 còn có một số tính năng mới hơn so với HyperTransport 2.0, như chế độ hoạt động AC, Link Splitting, Hot Plugging và Dynamic Link Clock/Width Adjustment. Các bộ vi xử lý AMD sắp tới như Phenom, sẽ sử dụng phiên bản HyperTransport bus mới này.

HyperTransport 3.0 sẽ được sử dụng trên các CPU socket AM2+ và 1207+.

HyperTransport 3.0 có thêm các tốc độ clock mới, vẫn giữ tương thích với HT1 và HT2:

*
1.800 MHz = 3.600 MT/s = 7.200 MB/s
*
2.000 MHz = 4.000 MT/s = 8.000 MB/s
*
2.400 MHz = 4.800 MT/s = 9.600 MB/s
*
2.600 MHz = 5.200 MT/s = 10.400 MB/s

AMD tuyên bố rằng các CPU sắp tới của họ sẽ hỗ trợ tốc độ truyền HT3 lớn nhất – 10.400 MB/s – AMD gọi là 5,2 GT/s, nghĩa là hàng tỉ truyền tải trong một giây. Tuy vậy chúng tôi vẫn cho rằng các CPU đó sẽ vẫn chỉ tương thích với tốc độ thấp hơn. Điều này là vì có hai thứ. Đầu tiên là các CPU nền tảng HT3 mới có thể được cài đặt trên các bo mạch nền tảng HT2 – ví dụ như cài đặt một bộ vi xử lý socket AM2+ trên bản mạch socket AM2 – và như vậy họ cũng sẽ không đạt được hiệu suất I/O tối đa. Thứ hai là tại thời điểm ra mắt, có thể một vài chipset sẽ không thể chạy với tốc độ truyền tải 10.400 MB/s, ngay cả nếu chúng là HT3, cũng giống như điều xảy ra khi Athlon 64 ra mắt lần đầu tiên.

Tương tự như điều xảy ra với các tốc độ clock thấp hơn, có thể sẽ có người gọi tốc độ clock lớn nhất của HT3 thành 5.2 GHz hay tốc độ truyền tải lớn nhất của nó thành 20.8 GB/s

Một lần nữa tốc độ truyền tải được HyperTransort giới thiệu lại được cường điệu cao hơn. Họ thông báo HyperTransport 3,0 có một tốc độ truyền tải lớn 41,6 GB/s. Để có được con số này, họ tính toán các liên kết 32-bit (không phải 16-bit) và nhân số tìm được với hai bởi vì có hai liên kết. Thuật toán được sử dụng là 2.600 MHz x 32 x 2 / 8 x 2. Như chúng tôi đã giải thích, các vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16-bit chứ không phải 32-bit và chúng tôi không đồng ý với phương pháp nhân đôi tốc độ truyền tải này bởi thực tế chỉ có một liên kết để truyền tải và một liên kết khác để nhận dữ liệu. Chúng tôi sẽ chỉ đồng ý với điều này nếu các liên kết có cùng hướng.

Ở đây chúng tôi chỉ đi vào giới thiệu các tính năng mới được mở rộng trong HyperTransport 3.0.

Chế độ hoạt động AC cho phép HyperTransport bus có thể thực hiện trên các khoảng cách dài hơn. Mục tiêu là cho phép HyperTransport có thể được sử dụng trực tiếp đến các trường hợp kết nối, bo mạch và các bảng nối đa năng. Các bộ vi xử lý sẽ không sử dụng tính năng này.

Phân tách kết nối (Link splitting) cho phép liên kết 16bit để có thể được truy cập như hai liên kết 8bit độc lập. Điều này có thể được sử dụng cho việc tăng số liên kết có sẵn, cho phép thêm số lượng CPU có thể được kết nối mà không cần sử dụng bất kỳ phần cứng mở rộng nào.

Hot Plugging cho phép các thiết bị HyperTransport có thể được cài đặt và hủy bỏ cài đặt khi bus đang chạy. Nó không cho phép bạn thay thế CPU khi hệ thống được bật vì CPU có một số chân khác bên cạnh HyperTransport, nhưng tính năng này có thể được sử dụng trên các máy chủ lưu trữ HT3.

Cuối cùng là Dynamic Link Clock/Width Adjustment, tính năng được sử dụng bởi các CPU AMD nền tảng HT3 – khi chúng được cài đặt trên bo mạch chủ bằng chipset HT3. Tính năng này cho phép CPU có thể thay đổi clock và số lượng bít được phát trên mỗi một chu kỳ clock mang tính động. Ý tưởng ở đây là giảm công suất tiêu thụ. Ví dụ, nếu CPU cảm nhận rằng HyperTransport bus của nó ở 2.600 MHz (10.400 MB/s) là quá nhiều so với những gì nó đang thực hiện được thì nó có thể giảm bus xuống 1.000 MHz (4.000 MB/s) – hoặc bất kỳ một tốc độ gì đó mà nó cho là sẽ phù hợp hơn. Cũng tương tự với số lượng bit được phát trên mỗi chu kỳ – nó có thể được giảm từ 16 đến bất cứ số nào mà CPU cảm thấy hợp lý, dựa trên hiệu suất sử dụng của hệ thống hiện hành. HyperTransport 1.x

HyperTransport bus có thể hoạt động dưới một vài cấu hình clock và độ rộng (nghĩa là số bit được truyền mỗi lần). Đây có thể là vấn đề gây ra nhiều hiểu sai và lỗi về HyperTransport.

HyperTransport là một bus được tạo bởi sự cộng tác sản xuất của một vài nhà máy, bao gồm AMD, nVidia và Apple. Bus này có thể được sử dụng trên một số ứng dụng và nó không bị hạn chế đối với các bộ vi xử lý của AMD.

Điều đó có nghĩa rằng cấu hình thực của HyperTransport bus sẽ phụ thuộc vào các chuyên gia phát triển phần cứng.

Một số chuyên gia phát triển tuyên bố về tốc độ truyền tải một cách quá mức của HyperTransport bus mà họ đang sử dụng.

Các bộ vi xử lý AMD64 hiện hành sử dụng HyperTransport 1 (HT1) hay HyperTransport 2 (HT2), và các bộ vi xử lý AMD sắp tới sử dụng HyperTransport 3 (HT3). Trong tất cả các trường hợp này, bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit, thậm chí HyperTransport còn cho phép sử dụng các liên kết 32bit.

HyperTransport 1 được sử dụng trên tất cả các socket 754 và socket AM2 Sempron (các bộ vi xử lý AM2 sử dụng HyperTransport 2.0).

Đây là một phân tích thống kê về tất cả các tốc độ truyền tải và clock có thể đối với HyperTransport 1.x (nghĩa là được cung cấp trên socket 754):

*
200 MHz = 400 MT/s = 800 MB/s
*
400 MHz = 800 MT/s = 1.600 MB/s
*
600 MHz = 1.200 MT/s = 2.400 MB/s
*
800 MHz = 1.600 MT/s = 3.200 MB/s

HyperTransport truyền tải 2 dữ liệu trên mỗi một chu kỳ clock, khái niệm đã được biết đến như DDR, tốc độ dữ liệu kép. Công thức để tìm ra tốc độ truyền tải lớn nhất theo lý thuyết là:

Tốc độ truyền tải = độ rộng xung (số bit) x clock x số đơn vị dữ liệu trên mỗi chu kỳ/ 8.

Như vậy với các bộ vi xử lý socket 754, HyperTransport bus có thể làm việc đến 800 MHz hay 3.200 MB/s.

- Nói tốc độ clock được sử dụng bởi HyperTransport 1.x là 1.600 MHz bởi vì mỗi một chu kỳ clock hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được tương đương với tốc độ clock 1.600 MHz chỉ truyền tải một dữ liệu trên chu kỳ clock. Cuối cùng tốc độ truyền tải sẽ như nhau, như công thức ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock”, nó sẽ sử dụng là “1”. Điều này cũng xảy ra tương tự với DDR và các bộ nhớ mới hơn có tốc độ clock tuyên bố là gấp đôi tốc độ clock thực (nghĩa là các bộ nhớ DDR2-800 làm việc thực tế là 400MHz nhưng truyền tải hai dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock).

- AMD nói rằng tốc độ clock là 1.600MT/s. MT/s là viết tắt của cụm Mega Transfers per Second hay hàng triệu truyền tải trong một giây. Đây mới là đúng cách để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên giây bằng tốc độ clock nhân với số lần dữ liệu truyền tải trên mỗi chu kỳ.

Nói rằng tốc độ truyền tải lớn nhất của HyperTransport 1.x là 6.400 MB/s. Điều đó là bởi vì tốc độ truyền tải đã được tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (nghĩa là 3.200MB/s cho đường dẫn đầu vào và 3.200MB/s cho đường dẫn đầu ra), chính vì vậy một số người đã đơn giản hóa bằng cách nhân tốc độ truyền tải lên hai để dùng chung cho cả hai đường dữ liệu. Chúng tôi không đồng ý với ý tưởng này vì nói như thể cũng giống như nói rằng tốc độ tối đa của một đường cao tốc nào đó là 130Km/h thì mỗi một chiều chỉ có 65Km/h, điều này quả thực rất dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác nói rằng bus ngoài hoặc FSB của Athlon 64 (hoặc các CPU dựa trên AMD64 nào đó) là 16.00MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Bạn cũng cần biết một điều rằng các bộ vi xử lý AMD có thể làm việc với một tốc độ clock dưới tốc độ đã tuyên bố 1.600 MT/s (800 MHz). Thực tế rằng chúng có thể làm việc ở bất kỳ tốc độ nào trong danh sách đã công bố ở trên.

Chipset có thể nhận ra tốc độ clock thấp hơn với CPU và thậm chí một bước 8bit thay vì 16bit. Trong thực tế, khi các chipset Athlon 64 đầu tiên mới ra đời, VIA đã tuyên bố rằng chipset của họ cho Athlon 64, K8T800 có nhiều ưu điểm hơn để cạnh trạnh với HyperTransport bus ở tốc độ 1.600MT/s khi không làm việc ở tốc độ truyền tải cực đại.

Tại website chính thức của HyperTransport, bạn sẽ thấy rằng họ tuyên bố tốc độ truyền tải lớn nhất là 12,8 GB/s đối với HyperTransport 1.x. Tốc độ truyền tải lớn nhất này được thực hiện bằng cách sử dụng các liên kết 32bit – vì các bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit. Nếu làm một phép toán bạn sẽ nhận được kết quả 6.400 MB/s (32 bits x 800 MHz x 2 / 8). Đây là một sự hợp tác gấp đôi tốc độ lớn nhất chỉ vì có hai đường dữ liệu được cung cấp (một cho phát và một cho nhận). Như chúng tôi đã nói trước, chúng tôi không đồng ý với quan niệm tính toán tốc độ truyền tải như vậy.

HyperTransport 2.0

HyperTransport 2.0 bổ sung thêm một số tốc độ clock mới – tốc độ truyên tải mới và tính năng mới, bản đồ hóa PCI Express, đây là tính năng sẽ giúp giao tiếp giữa HyperTransport và PCI Express – hay nói theo cách khác, làm cho nó dễ dàng hơn đối với các CPU khi giao tiếp với thiết bị PCI Express.

Tốc độ truyền tải và clock mới giới thiệu trong HyperTransport 2.0 được cho dưới đây, thừa nhận các liên kết 16bit (là cấu hình được sử dụng bởi bộ vi xử lý AMD):

*
1.000 MHz = 2.000 MT/s = 4.000 MB/s
*
1.200 MHz = 2.400 MT/s = 4.800 MB/s
*
1.400 MHz = 2.800 MT/s = 5.600 MB/s

Các thiết bị HyperTransport 2.0 cũng có thể làm việc với tốc độ truyền tải của HyperTransport 1.x.

AMD sử dụng HyperTransport 2.0 trên tất cả các CPU AMD64 sockets 939 và AM2 (ngoại trừ trên các CPU Sempron, CPU sử dụng HyperTransport 1.0), mặc dù vậy chỉ hỗ trợ tốc độ HT2 thấp hơn – trong thực tế AMD được quan tâm đến nhiều hơn trong tính năng bản đồ hóa PCI Express so với mặt tốc độ truyền tải cao. Tuy vậy các bộ vi xử lý này dựa trên tốc độ truyền tải lớn nhất của các liên kết HT2 là 4.000 MB/s

Để làm cho một số thứ bớt lộn xộn, AMD sử dụng lại vài lần tên “HT1” để miêu tả HyperTransport bus của CPU có các liên kết HyperTransport của họ đang làm việc ở tốc độ 1.000 MHz. Điều này có thể tránh người dùng thừa nhận rằng chỉ các phần của HT2 mới có thể làm việc đến tốc độ 1.400 MHz (5.600 MB/s).

Một số người cho rằng liên kết 1.000 MHz/4.000 MB/s HyperTransport này được sử dụng bởi các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 với:

- 2.000 MHz. Điều này có lẽ là vì trên mỗi một chu kỳ clock có hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được sẽ bằng với tốc độ clock 2.000MHz đang được truyền tải chỉ một dữ liệu trên chu kỳ. Kết quả cuối cùng đều như nhau, như công thức được thể hiện ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên số chu kỳ clock” thì lúc này là “1”. Điều tương tự cũng xảy ra đối với DDR và các bộ nhớ sau này.

- 2.000 MT/s. Đây là tốc độ truyền tải chính thức của AMD. Tên viết tắt của thuật ngữ này đã được giới thiệu trong phần trên. Đây là cách đúng đắn để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên mỗi giây bằng số tốc độ clock nhân với số lượng dữ liệu được truyền tải trên mỗi chu kỳ.

- 8.000 MB/s. Điều này xảy ra vì tốc độ truyền tải đã tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (có nghĩa là 4.000 MB/s cho mỗi đường dữ liệu vào ra riêng biệt). Phần này cũng như phần trước mà chúng tôi đã đề cập, và chúng tôi cũng đã bày tỏ quan điểm không đồng ý với quan niệm này, quan niệm dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác là nói rằng bus ngoài hay FSB (Front Side Bus) của Athlon 64 (hay của bất kỳ CPU dựa trên AMD64 nào) là 2.000MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Cũng giống như HyperTransport 1.x bạn cần phải lưu ý rằng các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 có thể làm việc với bất kỳ tốc độ clock nào dưới 1.000 MHz.

Một lần nữa các giá trị chính thức cho HyperTransport 2.0 lại được thổi phồng lên như trong một tuyên bố rằng chúng sử dụng các liên kết 32bit và nhân 2 vì có hai liên kết được cung cấp (một cho phát và một cho nhận dữ liệu). Và cũng vậy, chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm này.

HyperTransport 3.0

Bên cạnh việc bổ sung thêm tốc độ clock – tốc độ truyền tải mới – HyperTransport 3.0 còn có một số tính năng mới hơn so với HyperTransport 2.0, như chế độ hoạt động AC, Link Splitting, Hot Plugging và Dynamic Link Clock/Width Adjustment. Các bộ vi xử lý AMD sắp tới như Phenom, sẽ sử dụng phiên bản HyperTransport bus mới này.

HyperTransport 3.0 sẽ được sử dụng trên các CPU socket AM2+ và 1207+.

HyperTransport 3.0 có thêm các tốc độ clock mới, vẫn giữ tương thích với HT1 và HT2:

*
1.800 MHz = 3.600 MT/s = 7.200 MB/s
*
2.000 MHz = 4.000 MT/s = 8.000 MB/s
*
2.400 MHz = 4.800 MT/s = 9.600 MB/s
*
2.600 MHz = 5.200 MT/s = 10.400 MB/s

AMD tuyên bố rằng các CPU sắp tới của họ sẽ hỗ trợ tốc độ truyền HT3 lớn nhất – 10.400 MB/s – AMD gọi là 5,2 GT/s, nghĩa là hàng tỉ truyền tải trong một giây. Tuy vậy chúng tôi vẫn cho rằng các CPU đó sẽ vẫn chỉ tương thích với tốc độ thấp hơn. Điều này là vì có hai thứ. Đầu tiên là các CPU nền tảng HT3 mới có thể được cài đặt trên các bo mạch nền tảng HT2 – ví dụ như cài đặt một bộ vi xử lý socket AM2+ trên bản mạch socket AM2 – và như vậy họ cũng sẽ không đạt được hiệu suất I/O tối đa. Thứ hai là tại thời điểm ra mắt, có thể một vài chipset sẽ không thể chạy với tốc độ truyền tải 10.400 MB/s, ngay cả nếu chúng là HT3, cũng giống như điều xảy ra khi Athlon 64 ra mắt lần đầu tiên.

Tương tự như điều xảy ra với các tốc độ clock thấp hơn, có thể sẽ có người gọi tốc độ clock lớn nhất của HT3 thành 5.2 GHz hay tốc độ truyền tải lớn nhất của nó thành 20.8 GB/s

Một lần nữa tốc độ truyền tải được HyperTransort giới thiệu lại được cường điệu cao hơn. Họ thông báo HyperTransport 3,0 có một tốc độ truyền tải lớn 41,6 GB/s. Để có được con số này, họ tính toán các liên kết 32-bit (không phải 16-bit) và nhân số tìm được với hai bởi vì có hai liên kết. Thuật toán được sử dụng là 2.600 MHz x 32 x 2 / 8 x 2. Như chúng tôi đã giải thích, các vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16-bit chứ không phải 32-bit và chúng tôi không đồng ý với phương pháp nhân đôi tốc độ truyền tải này bởi thực tế chỉ có một liên kết để truyền tải và một liên kết khác để nhận dữ liệu. Chúng tôi sẽ chỉ đồng ý với điều này nếu các liên kết có cùng hướng.

Ở đây chúng tôi chỉ đi vào giới thiệu các tính năng mới được mở rộng trong HyperTransport 3.0.

Chế độ hoạt động AC cho phép HyperTransport bus có thể thực hiện trên các khoảng cách dài hơn. Mục tiêu là cho phép HyperTransport có thể được sử dụng trực tiếp đến các trường hợp kết nối, bo mạch và các bảng nối đa năng. Các bộ vi xử lý sẽ không sử dụng tính năng này.

Phân tách kết nối (Link splitting) cho phép liên kết 16bit để có thể được truy cập như hai liên kết 8bit độc lập. Điều này có thể được sử dụng cho việc tăng số liên kết có sẵn, cho phép thêm số lượng CPU có thể được kết nối mà không cần sử dụng bất kỳ phần cứng mở rộng nào.

Hot Plugging cho phép các thiết bị HyperTransport có thể được cài đặt và hủy bỏ cài đặt khi bus đang chạy. Nó không cho phép bạn thay thế CPU khi hệ thống được bật vì CPU có một số chân khác bên cạnh HyperTransport, nhưng tính năng này có thể được sử dụng trên các máy chủ lưu trữ HT3.

Cuối cùng là Dynamic Link Clock/Width Adjustment, tính năng được sử dụng bởi các CPU AMD nền tảng HT3 – khi chúng được cài đặt trên bo mạch chủ bằng chipset HT3. Tính năng này cho phép CPU có thể thay đổi clock và số lượng bít được phát trên mỗi một chu kỳ clock mang tính động. Ý tưởng ở đây là giảm công suất tiêu thụ. Ví dụ, nếu CPU cảm nhận rằng HyperTransport bus của nó ở 2.600 MHz (10.400 MB/s) là quá nhiều so với những gì nó đang thực hiện được thì nó có thể giảm bus xuống 1.000 MHz (4.000 MB/s) – hoặc bất kỳ một tốc độ gì đó mà nó cho là sẽ phù hợp hơn. Cũng tương tự với số lượng bit được phát trên mỗi chu kỳ – nó có thể được giảm từ 16 đến bất cứ số nào mà CPU cảm thấy hợp lý, dựa trên hiệu suất sử dụng của hệ thống hiện hành. HyperTransport 1.x

HyperTransport bus có thể hoạt động dưới một vài cấu hình clock và độ rộng (nghĩa là số bit được truyền mỗi lần). Đây có thể là vấn đề gây ra nhiều hiểu sai và lỗi về HyperTransport.

HyperTransport là một bus được tạo bởi sự cộng tác sản xuất của một vài nhà máy, bao gồm AMD, nVidia và Apple. Bus này có thể được sử dụng trên một số ứng dụng và nó không bị hạn chế đối với các bộ vi xử lý của AMD.

Điều đó có nghĩa rằng cấu hình thực của HyperTransport bus sẽ phụ thuộc vào các chuyên gia phát triển phần cứng.

Một số chuyên gia phát triển tuyên bố về tốc độ truyền tải một cách quá mức của HyperTransport bus mà họ đang sử dụng.

Các bộ vi xử lý AMD64 hiện hành sử dụng HyperTransport 1 (HT1) hay HyperTransport 2 (HT2), và các bộ vi xử lý AMD sắp tới sử dụng HyperTransport 3 (HT3). Trong tất cả các trường hợp này, bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit, thậm chí HyperTransport còn cho phép sử dụng các liên kết 32bit.

HyperTransport 1 được sử dụng trên tất cả các socket 754 và socket AM2 Sempron (các bộ vi xử lý AM2 sử dụng HyperTransport 2.0).

Đây là một phân tích thống kê về tất cả các tốc độ truyền tải và clock có thể đối với HyperTransport 1.x (nghĩa là được cung cấp trên socket 754):

*
200 MHz = 400 MT/s = 800 MB/s
*
400 MHz = 800 MT/s = 1.600 MB/s
*
600 MHz = 1.200 MT/s = 2.400 MB/s
*
800 MHz = 1.600 MT/s = 3.200 MB/s

HyperTransport truyền tải 2 dữ liệu trên mỗi một chu kỳ clock, khái niệm đã được biết đến như DDR, tốc độ dữ liệu kép. Công thức để tìm ra tốc độ truyền tải lớn nhất theo lý thuyết là:

Tốc độ truyền tải = độ rộng xung (số bit) x clock x số đơn vị dữ liệu trên mỗi chu kỳ/ 8.

Như vậy với các bộ vi xử lý socket 754, HyperTransport bus có thể làm việc đến 800 MHz hay 3.200 MB/s.

- Nói tốc độ clock được sử dụng bởi HyperTransport 1.x là 1.600 MHz bởi vì mỗi một chu kỳ clock hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được tương đương với tốc độ clock 1.600 MHz chỉ truyền tải một dữ liệu trên chu kỳ clock. Cuối cùng tốc độ truyền tải sẽ như nhau, như công thức ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock”, nó sẽ sử dụng là “1”. Điều này cũng xảy ra tương tự với DDR và các bộ nhớ mới hơn có tốc độ clock tuyên bố là gấp đôi tốc độ clock thực (nghĩa là các bộ nhớ DDR2-800 làm việc thực tế là 400MHz nhưng truyền tải hai dữ liệu trên mỗi chu kỳ clock).

- AMD nói rằng tốc độ clock là 1.600MT/s. MT/s là viết tắt của cụm Mega Transfers per Second hay hàng triệu truyền tải trong một giây. Đây mới là đúng cách để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên giây bằng tốc độ clock nhân với số lần dữ liệu truyền tải trên mỗi chu kỳ.

Nói rằng tốc độ truyền tải lớn nhất của HyperTransport 1.x là 6.400 MB/s. Điều đó là bởi vì tốc độ truyền tải đã được tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (nghĩa là 3.200MB/s cho đường dẫn đầu vào và 3.200MB/s cho đường dẫn đầu ra), chính vì vậy một số người đã đơn giản hóa bằng cách nhân tốc độ truyền tải lên hai để dùng chung cho cả hai đường dữ liệu. Chúng tôi không đồng ý với ý tưởng này vì nói như thể cũng giống như nói rằng tốc độ tối đa của một đường cao tốc nào đó là 130Km/h thì mỗi một chiều chỉ có 65Km/h, điều này quả thực rất dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác nói rằng bus ngoài hoặc FSB của Athlon 64 (hoặc các CPU dựa trên AMD64 nào đó) là 16.00MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Bạn cũng cần biết một điều rằng các bộ vi xử lý AMD có thể làm việc với một tốc độ clock dưới tốc độ đã tuyên bố 1.600 MT/s (800 MHz). Thực tế rằng chúng có thể làm việc ở bất kỳ tốc độ nào trong danh sách đã công bố ở trên.

Chipset có thể nhận ra tốc độ clock thấp hơn với CPU và thậm chí một bước 8bit thay vì 16bit. Trong thực tế, khi các chipset Athlon 64 đầu tiên mới ra đời, VIA đã tuyên bố rằng chipset của họ cho Athlon 64, K8T800 có nhiều ưu điểm hơn để cạnh trạnh với HyperTransport bus ở tốc độ 1.600MT/s khi không làm việc ở tốc độ truyền tải cực đại.

Tại website chính thức của HyperTransport, bạn sẽ thấy rằng họ tuyên bố tốc độ truyền tải lớn nhất là 12,8 GB/s đối với HyperTransport 1.x. Tốc độ truyền tải lớn nhất này được thực hiện bằng cách sử dụng các liên kết 32bit – vì các bộ vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16bit. Nếu làm một phép toán bạn sẽ nhận được kết quả 6.400 MB/s (32 bits x 800 MHz x 2 / 8). Đây là một sự hợp tác gấp đôi tốc độ lớn nhất chỉ vì có hai đường dữ liệu được cung cấp (một cho phát và một cho nhận). Như chúng tôi đã nói trước, chúng tôi không đồng ý với quan niệm tính toán tốc độ truyền tải như vậy.

HyperTransport 2.0

HyperTransport 2.0 bổ sung thêm một số tốc độ clock mới – tốc độ truyên tải mới và tính năng mới, bản đồ hóa PCI Express, đây là tính năng sẽ giúp giao tiếp giữa HyperTransport và PCI Express – hay nói theo cách khác, làm cho nó dễ dàng hơn đối với các CPU khi giao tiếp với thiết bị PCI Express.

Tốc độ truyền tải và clock mới giới thiệu trong HyperTransport 2.0 được cho dưới đây, thừa nhận các liên kết 16bit (là cấu hình được sử dụng bởi bộ vi xử lý AMD):

*
1.000 MHz = 2.000 MT/s = 4.000 MB/s
*
1.200 MHz = 2.400 MT/s = 4.800 MB/s
*
1.400 MHz = 2.800 MT/s = 5.600 MB/s

Các thiết bị HyperTransport 2.0 cũng có thể làm việc với tốc độ truyền tải của HyperTransport 1.x.

AMD sử dụng HyperTransport 2.0 trên tất cả các CPU AMD64 sockets 939 và AM2 (ngoại trừ trên các CPU Sempron, CPU sử dụng HyperTransport 1.0), mặc dù vậy chỉ hỗ trợ tốc độ HT2 thấp hơn – trong thực tế AMD được quan tâm đến nhiều hơn trong tính năng bản đồ hóa PCI Express so với mặt tốc độ truyền tải cao. Tuy vậy các bộ vi xử lý này dựa trên tốc độ truyền tải lớn nhất của các liên kết HT2 là 4.000 MB/s

Để làm cho một số thứ bớt lộn xộn, AMD sử dụng lại vài lần tên “HT1” để miêu tả HyperTransport bus của CPU có các liên kết HyperTransport của họ đang làm việc ở tốc độ 1.000 MHz. Điều này có thể tránh người dùng thừa nhận rằng chỉ các phần của HT2 mới có thể làm việc đến tốc độ 1.400 MHz (5.600 MB/s).

Một số người cho rằng liên kết 1.000 MHz/4.000 MB/s HyperTransport này được sử dụng bởi các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 với:

- 2.000 MHz. Điều này có lẽ là vì trên mỗi một chu kỳ clock có hai dữ liệu được truyền tải, hiệu suất đạt được sẽ bằng với tốc độ clock 2.000MHz đang được truyền tải chỉ một dữ liệu trên chu kỳ. Kết quả cuối cùng đều như nhau, như công thức được thể hiện ở trên thay vì sử dụng “2” cho “số dữ liệu trên số chu kỳ clock” thì lúc này là “1”. Điều tương tự cũng xảy ra đối với DDR và các bộ nhớ sau này.

- 2.000 MT/s. Đây là tốc độ truyền tải chính thức của AMD. Tên viết tắt của thuật ngữ này đã được giới thiệu trong phần trên. Đây là cách đúng đắn để diễn tả ý tưởng trên. Truyền tải trên mỗi giây bằng số tốc độ clock nhân với số lượng dữ liệu được truyền tải trên mỗi chu kỳ.

- 8.000 MB/s. Điều này xảy ra vì tốc độ truyền tải đã tuyên bố là cho mỗi đường dữ liệu (có nghĩa là 4.000 MB/s cho mỗi đường dữ liệu vào ra riêng biệt). Phần này cũng như phần trước mà chúng tôi đã đề cập, và chúng tôi cũng đã bày tỏ quan điểm không đồng ý với quan niệm này, quan niệm dễ gây nhầm lẫn.

Một hiểu sai khác là nói rằng bus ngoài hay FSB (Front Side Bus) của Athlon 64 (hay của bất kỳ CPU dựa trên AMD64 nào) là 2.000MHz. Cái này cũng có phần đúng. Chúng ta có thể nói điều đó khi chỉ quan tâm đến các hoạt động vào ra nhưng không đề cập đến bộ nhớ, vì các bộ vi xử lý kiến trúc AMD64 có hai bus ngoài riêng biệt. Như vậy tốt hơn chúng ta nên nói HyperTransport chứ không phải “external bus” hay “FSB” để tránh nhầm lẫn. Cũng giống như HyperTransport 1.x bạn cần phải lưu ý rằng các bộ vi xử lý socket 939 và AM2 có thể làm việc với bất kỳ tốc độ clock nào dưới 1.000 MHz.

Một lần nữa các giá trị chính thức cho HyperTransport 2.0 lại được thổi phồng lên như trong một tuyên bố rằng chúng sử dụng các liên kết 32bit và nhân 2 vì có hai liên kết được cung cấp (một cho phát và một cho nhận dữ liệu). Và cũng vậy, chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm này.

HyperTransport 3.0

Bên cạnh việc bổ sung thêm tốc độ clock – tốc độ truyền tải mới – HyperTransport 3.0 còn có một số tính năng mới hơn so với HyperTransport 2.0, như chế độ hoạt động AC, Link Splitting, Hot Plugging và Dynamic Link Clock/Width Adjustment. Các bộ vi xử lý AMD sắp tới như Phenom, sẽ sử dụng phiên bản HyperTransport bus mới này.

HyperTransport 3.0 sẽ được sử dụng trên các CPU socket AM2+ và 1207+.

HyperTransport 3.0 có thêm các tốc độ clock mới, vẫn giữ tương thích với HT1 và HT2:

*
1.800 MHz = 3.600 MT/s = 7.200 MB/s
*
2.000 MHz = 4.000 MT/s = 8.000 MB/s
*
2.400 MHz = 4.800 MT/s = 9.600 MB/s
*
2.600 MHz = 5.200 MT/s = 10.400 MB/s

AMD tuyên bố rằng các CPU sắp tới của họ sẽ hỗ trợ tốc độ truyền HT3 lớn nhất – 10.400 MB/s – AMD gọi là 5,2 GT/s, nghĩa là hàng tỉ truyền tải trong một giây. Tuy vậy chúng tôi vẫn cho rằng các CPU đó sẽ vẫn chỉ tương thích với tốc độ thấp hơn. Điều này là vì có hai thứ. Đầu tiên là các CPU nền tảng HT3 mới có thể được cài đặt trên các bo mạch nền tảng HT2 – ví dụ như cài đặt một bộ vi xử lý socket AM2+ trên bản mạch socket AM2 – và như vậy họ cũng sẽ không đạt được hiệu suất I/O tối đa. Thứ hai là tại thời điểm ra mắt, có thể một vài chipset sẽ không thể chạy với tốc độ truyền tải 10.400 MB/s, ngay cả nếu chúng là HT3, cũng giống như điều xảy ra khi Athlon 64 ra mắt lần đầu tiên.

Tương tự như điều xảy ra với các tốc độ clock thấp hơn, có thể sẽ có người gọi tốc độ clock lớn nhất của HT3 thành 5.2 GHz hay tốc độ truyền tải lớn nhất của nó thành 20.8 GB/s

Một lần nữa tốc độ truyền tải được HyperTransort giới thiệu lại được cường điệu cao hơn. Họ thông báo HyperTransport 3,0 có một tốc độ truyền tải lớn 41,6 GB/s. Để có được con số này, họ tính toán các liên kết 32-bit (không phải 16-bit) và nhân số tìm được với hai bởi vì có hai liên kết. Thuật toán được sử dụng là 2.600 MHz x 32 x 2 / 8 x 2. Như chúng tôi đã giải thích, các vi xử lý AMD sử dụng các liên kết 16-bit chứ không phải 32-bit và chúng tôi không đồng ý với phương pháp nhân đôi tốc độ truyền tải này bởi thực tế chỉ có một liên kết để truyền tải và một liên kết khác để nhận dữ liệu. Chúng tôi sẽ chỉ đồng ý với điều này nếu các liên kết có cùng hướng.

Ở đây chúng tôi chỉ đi vào giới thiệu các tính năng mới được mở rộng trong HyperTransport 3.0.

Chế độ hoạt động AC cho phép HyperTransport bus có thể thực hiện trên các khoảng cách dài hơn. Mục tiêu là cho phép HyperTransport có thể được sử dụng trực tiếp đến các trường hợp kết nối, bo mạch và các bảng nối đa năng. Các bộ vi xử lý sẽ không sử dụng tính năng này.

Phân tách kết nối (Link splitting) cho phép liên kết 16bit để có thể được truy cập như hai liên kết 8bit độc lập. Điều này có thể được sử dụng cho việc tăng số liên kết có sẵn, cho phép thêm số lượng CPU có thể được kết nối mà không cần sử dụng bất kỳ phần cứng mở rộng nào.

Hot Plugging cho phép các thiết bị HyperTransport có thể được cài đặt và hủy bỏ cài đặt khi bus đang chạy. Nó không cho phép bạn thay thế CPU khi hệ thống được bật vì CPU có một số chân khác bên cạnh HyperTransport, nhưng tính năng này có thể được sử dụng trên các máy chủ lưu trữ HT3.

Cuối cùng là Dynamic Link Clock/Width Adjustment, tính năng được sử dụng bởi các CPU AMD nền tảng HT3 – khi chúng được cài đặt trên bo mạch chủ bằng chipset HT3. Tính năng này cho phép CPU có thể thay đổi clock và số lượng bít được phát trên mỗi một chu kỳ clock mang tính động. Ý tưởng ở đây là giảm công suất tiêu thụ. Ví dụ, nếu CPU cảm nhận rằng HyperTransport bus của nó ở 2.600 MHz (10.400 MB/s) là quá nhiều so với những gì nó đang thực hiện được thì nó có thể giảm bus xuống 1.000 MHz (4.000 MB/s) – hoặc bất kỳ một tốc độ gì đó mà nó cho là sẽ phù hợp hơn. Cũng tương tự với số lượng bit được phát trên mỗi chu kỳ – nó có thể được giảm từ 16 đến bất cứ số nào mà CPU cảm thấy hợp lý, dựa trên hiệu suất sử dụng của hệ thống hiện hành.

Theo quantrimang.com

VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
VN:F [1.6.1_878]
Rating: 0 (from 0 votes)