Tại sao tính năng Windows XP Mode của Windows 7 có khả năng thay đổi cách Microsoft thiết kế tất cả các hệ điều hành Windows trong tương lai.
Có lẽ rất nhiều người đã hiểu chưa đúng về chế độ Windows XP của Windows 7, cho rằng đó chỉ là một cơ chế có khả năng tương thích ngược. Tuy nhiên ngoài khả năng đó, tính năng này còn có khả năng thay đổi cách Microsoft thiết kế tất cả các hệ điều hành Windows trong tương lai.
Chế độ Windows XP Mode cho Windows 7 đã được giới thiệu rất nhiều tuy nhiên ngoài việc cung cấp giải pháp tương thích ngược thì nó còn có nhiều tính năng khác. Công nghệ này có liên quan nhiều đến các thay đổi trong các phiên bản tương lai của Windows. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn lý do của vấn đề đó.
Khi mới tuyên bố rằng Windows 7 sẽ có chế độ Windows XP với mục đích tương thích ngược, đã có rất nhiều ý kiến bàn tán xung quanh rằng Windows 7 sẽ đưa vào một copy có đăng ký hoàn chỉnh Windows XP chạy bên trong một máy ảo.
Tuy nhiên sự thực không phải vậy. Người dùng có thể sử dụng Virtual PC 2007 để chạy Windows XP bên trong một máy ảo với hệ điều hành Vista. Dù Microsoft đã thêm vào một đăng ký của Windows XP nhưng với hầu hết mọi người, phần nào tính năng này sẽ yêu cầu họ phải có các đăng ký Windows XP. Chính vì vậy có người đã cho rằng tính năng Windows XP Mode là một mánh lới quảng cáo trên thị trường được thiết kế để thuyết phục công chúng rằng Windows 7 sẽ không phải đi vào vết xe đổ trong các vấn đề tương thích như hệ điều hành Vista. ::Full content::
Windows Vista đã không có sự khởi đầu thuận lợi khi bộc lộ qua nhiều lỗi từ khi mới đưa vào vận hành. Trong đó có 3 lỗi gây nhiều phiên toái nhất, và người dùng hay gặp phải nhất khi sử dụng hệ điều hành này đó là thiếu driver, nhiều chương trình không tương thích và không có phần mềm bảo mật.
Không tích hợp đầy đủ Driver
Trong năm đầu tiên được tung ra, Windows Vista không tích hợp một số driver của các thiết bị phần cứng như card đồ họa, card âm thanh, máy scan và máy in. Điều này đã trở thành thật vấn đề không dễ gì khắc phục. Lúc đó bạn có thể hi vọng rằng Microsoft sẽ đưa ra một driver tương thích ngay khi có thể, hoặc bạn đang dùng máy scan hay máy in cũ để có thể thay mới cho tương thích với driver của Windows Vista.
Hiện nay hầu hết các thiết bị phần cứng đã có phiên bản driver tương thích cho Windows Vista. Nếu bạn hiện không dùng những thiết bị quá cũ thì sẽ không gặp phải vấn đề này. Tuy nhiên, để chắc chắn hơn bạn có thể tìm trên Compatibility Center của Windows Vista để kiểm tra xem thiết bị của bạn có tương thích hay không. Dù đã có tất cả driver tương thích với Windows Vista bạn cũng nên cập nhật thường xuyên bằng cách truy cập vào website của nhà sản xuất hàng tháng hoặc sử dụng phần mềm cập nhật tự động như Pareto Logical Driver Cure và Driver Scanner 2009.
Hình như các nhà sản xuất thiết bị phần cứng đã rút kinh nghiệm từ trường hợp của Windows Vista. Giờ đây chúng ta đã có WHQL (Windows Hardware Quality Labs) tích hợp sẵn trong Windows 7 chứng thực driver cho card đồ họa nVidia và ATI. Thậm chí là card âm thanh Creative, được biết đến vì có quá nhiều lỗi trong Windows Vista, đã được cải tiến trong Windows 7 như một Driver Availability Chart giúp hiển thị thời gian biểu mỗi khi driver của card âm thanh được cập nhật. Lúc đó sẽ có nhiều phiên bản driver thử nghiệm cho card âm thanh của Creative, một dấu hiệu rất đáng mừng. ::Full content::
Trong phần này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn thêm những cải tiến trong thành phần Backup and Restore Center của Windows 7.
Giới thiệu
Tính năng Backup and Restore Center của Windows 7 có rất nhiều cải thiện so với ứng dụng Windows Backup có trong Vista. Trong phần hai này, chúng tôi sẽ tiếp tục bằng cách giới thiệu cho các bạn về một trong số những gì được cho là cải thiện hơn của tính năng này trong Windows Vista.
Trong phần trước chúng tôi đã giới thiệu một số thiếu sót làm cho người dùng cảm thấy khó chịu đối với thành phần Windows Backup trong phiên bản Windows Vista, bên cạnh đó chúng tôi cũng đã giới thiệu cách cải tiến các vấn đề đó trong trong Windows 7 như thế nào. Trong phần này, chúng tôi sẽ cung cấp thêm cho các bạn một số thông tin bằng cách giới thiệu thêm những số cải tiến có trong ứng dụng backup của Windows 7.
Tạo một Backup
Toàn bộ quá trình tạo một backup cũng giống như những gì liên quan trong việc backup ở Windows Vista. Khi mở Backup and Restore Center, bạn có thể thấy backup theo lịch trình hoặc image backup.
Tuy nhiên có hai tùy chọn tạo cảm giác cho chúng ta hơi khó hiểu đó là dường như chúng ta sẽ phải sử dụng tùy chọn “Create an Image Backup” để tạo một onetime backup và sử dụng tùy chọn “Schedule a Backup” để backup hệ thống theo một lịch trình cơ bản nào đó. ::Full content::
Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách Microsoft đã thiết kế ứng dụng Backup của Windows 7 như thế nào để khắc phục những thiếu sót trong Vista.
Giới thiệu
Bài này chúng tôi sẽ đi sâu vào vấn đề tại sao ứng dụng backup của Windows Vista lại là một ứng dụng đáng thất vọng và giới thiệu cho các bạn cách Microsoft đã thiết kế ứng dụng này trong Windows 7 để khắc phục những thiếu sót đó.
Việc backup các file
Khi mở Windows Backup trong Vista, bạn sẽ có một số lựa chọn chẳng hạn như backup các file hoặc toàn bộ máy tính. Tùy chọn thứ nhất cho phép bạn có thể chọn ra những gì mình muốn backup nhưng thực sự ở đây bạn chỉ có thể chọn ra các hạng mục file chứ không phải là bất cứ một file nào mình muốn, xem thể hiện trong hình A. Cho ví dụ, bạn có thể backup các bức ảnh hoặc các file nhạc nói chung mà không phải là các file .JPG hay .MP3 được lưu trong một thư mục nào đó. Thêm vào đó, nếu bạn cần backup một kiểu file mà nó không phù hợp với các hạng mục được định nghĩa từ trước thì bạn không có một cách nào khác ngoài thực hiện một backup toàn bộ cho hệ thống của mình.
Hình A: Ứng dụng backup của Vista chỉ cho phép bạn backup các hạng mục file chứ không cho phép backup các file riêng lẻ
Microsoft đã có cải tiến khi họ tạo ứng dụng backup của Windows 7. Một mặt, họ đã làm ứng dụng này trở nên dễ dàng sử dụng đối với người dùng gia đình để họ (những người có ít chuyên môn về máy tính) có thể tự backup các máy tính của họ. Bên cạnh đó, họ cũng đã làm cho ứng dụng backup trở lên linh hoạt hơn để thỏa mãn những ai có nhiều kiến thức về máy tính hơn. ::Full content::
Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu những điểm khác nhau và những cải tiến quan trọng giữa hai hệ điều hành Windows Vista và Windows 7 mới trong việc cấu hình mạng.
Giới thiệu
Nhìn thoáng qua chúng ta có thể thấy không có quá nhiều sự khác biệt giữa việc cấu hình kết nối mạng trong Windows 7 và trong Windows Vista. Mặc dù vậy, sự thật lại có khá nhiều sự khác nhau quan trọng khi bạn bắt đầu sử dụng Windows 7. Chúng tôi sẽ chỉ ra những khác biệt đó cho các bạn trong bài.
Điều hướng – đến cấu hình mạng trong Windows 7
Làm thế nào để vào được nơi cấu hình mạng của Windows 7? Chỉ cần vào Start Menu, Control Panel, kích Network and Internet. Bạn cũng có thể thực hiện bằng cách sử dụng đường dẫn hướng tương tự trong Windows Vista. Mặc dù vậy, khi vào đến các thiết lập Network and Internet trong Windows, bạn sẽ thấy rất nhiều tùy chọn. Hãy để chúng tôi so sánh bằng việc bắt đầu với cửa sổ Network and Internet trong Windows 7 (thể hiện trong hình 1 bên dưới).
Hình 1: Cấu hình Network and Internet của Windows 7
Như những gì bạn thấy trong hình thì cửa sổ cấu hình của Windows 7 cung cấp một số lựa chọn mới và một số lựa chọn cũ, tuy nhiên xét về mặt tổng thể thì không có nhiều lựa chọn để chon từ đây. Chúng ta đã quen với việc nhìn thấy Network and Sharing Center và Internet Options nhưng HomeGroup ở đây là hoàn toàn mới. Chúng ta sẽ quay trở lại với HomeGroup và tính năng mới Network and Sharing Center trong Windows 7 ở phần dưới. ::Full content::
Thông thường, sau khi tải về Windows 7 RC bạn sẽ tiến hành ghi file ISO ra đĩa DVD để cài đặt. Cách làm này dễ với những máy thông thường, còn với netbook không được trang bị ổ đĩa DVD thì không đơn giản. Ba giải pháp sau đây bạn có thể tham khảo để thực hiện.
Cách 1: Mua một ổ đĩa DVD gắn ngoài qua cổng USB
Đây được xem là một trong những giải pháp tốt nhất. Không những vậy, cách này sẽ làm đơn giản hóa việc cài đặt bất kỳ phần mềm nào khác có trên đĩa CD hay DVD. Bạn có thể tìm mua những ổ đĩa này ngoài thị trường với giá khoảng 1,5 triệu đến 1,25 triệu đồng, hoặc có thể mua trên eBay với giá rẻ hơn khoảng 350.000 đồng.
Cách 2: Sử dụng ổ đĩa Flash USB
Nếu bạn có một ổ đĩa USB dung lượng 4GB trở lên, bạn có thể nhờ miễn phí mã nguồn mở có tên Live USB Helper – một công cụ giúp tạo thành một ổ đĩa có khả năng khởi động cùng hệ thống. Sau đó sử dụng công cụ miễn phí có tên Daemon Tools Lite dùng đển mount (gắn kết) toàn bộ dữ liệu có trong file ISO của Windows 7 vừa tải về ra các ổ đĩa (ở đây là ổ đĩa USB). ::Full content::
Một trong những thứ tuyệt vời nhất về Internet là không ai thực sự sở hữu được nó. Nó là một tập hợp (collection) các mạng mang tính toàn cầu, cả lớn và nhỏ. Các mạng này kết nối với nhau theo nhiều cách khác nhau để tạo thành một thực thể đơn nhất, cái mà chúng ta vẫn được biết đến với tên gọi Internet. Trong thực tế, tên này được xuất phát từ ý tưởng của các mạng kết nối chéo (interconnected networks), được lấy từ hai chữ này mà ra.
Từ những ngày đầu tiên được thành lập vào năm 1969, Internet đã phát triển lớn mạnh từ 4 hệ thống máy tính chủ đến hàng chục triệu chiếc như vậy. Mặc dù không ai sở hữu riêng Internet nhưng nó không có nghĩa nó không cần kiểm tra và duy trì dưới nhiều hình thức khác nhau. Internet Society, một nhóm phi lợi nhuận được thành lập vào năm 1992, đã giám sát việc hình thành các chính sách và giao thức để định nghĩa cách chúng ta sẽ sử dụng và tương tác với Internet như thế nào.
Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những vấn đề cơ bản về cấu trúc của Internet. Bạn sẽ biết thêm được những vấn đề cơ bản về Hệ thống máy chủ tên miền (DNS), các điểm truy cập mạng (NAP) và các mạng xương sống. Tuy nhiên đầu tiên chúng tôi sẽ giới thiệu về cách kết nối máy tính của bạn với các máy tính khác như thế nào.
Internet: Kiến trúc mạng
Mỗi máy tính được kết nối với Internet đều được coi là một phần của mạng, thậm chí cả máy tính ở nhà của bạn. Ví dụ, bạn có thể sử dụng một modem và quay số để kết nối đến một Internet Service Provider (ISP). Ở nơi làm việc, bạn có thể là một phần nằm trong mạng nội bộ Local Area Network (LAN) của công ty, nhưng bạn vẫn có thể kết nối với Internet bằng cách sử dụng một ISP mà công ty của bạn đã ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ này. Khi kết nối với ISP của mình thì bạn sẽ trở thành một phần trong mạng của họ. ISP sau đó có thể kết nối với một mạng lớn hơn và lại trở thành một phần của mạng đó. Internet đơn giản là mạng của các mạng (network of networks).
Hầu hết các công ty truyền thông lớn đều có các mạng xương sống chuyên dụng của chính họ để kết nối giữa các vùng địa lý khác nhau. Trong mỗi vùng này, các công ty có điểm hiện diện – Point of Presence (POP). POP là một địa điểm mà những người dùng nội bộ có thể truy cập vào mạng công ty thông qua một số điện thoại nội bộ hoặc đường truyền riêng. Thứ làm kinh ngạc ở đây là không có vấn đề kiểm soát mạng mà thay vì đó là một số mạng mức cao kết nối với nhau thông qua các Network Access Point (NAP).
Khi máy tính của bạn kết nối Internet, nó đã trở thành một phần của mạng
Ví dụ về mạng Internet
Đây là một ví dụ. Hãy hình dung rằng công ty A là một ISP lớn. Trong mỗi một thành phố lớn, công ty A này đều có một POP. POP trong mỗi thành phố đều có các hệ thống đường truyền có kết nối modem để khách hành của ISP này có thể quay số tới. Công ty này lắp đặt các đường truyền bằng cáp quang từ một công ty điện thoại để kết nối các POP này với nhau.
Tiếp theo, công ty B cũng là một ISP. Công ty B xây dựng tòa nhà lớn trong các thành phố lớn và các tập đoàn nằm trên những máy chủ Internet của họ trong các tòa nhà này. Công ty B lớn đến nỗi nó có thể chạy chính các đường cáp quang của họ giữa các tòa nhà để chúng được kết nối với nhau.
Trong kịch bản này, tất cả các khách hành của công ty A có thể trao đổi với nhau và tất cả các khách hàng của công ty B cũng có thể trao đổi với nhau, nhưng vẫn chưa có cách nào để trao đổi giữa các khách hàng của hai công ty này với nhau. Chính vì vậy, Công ty A và Công ty B cùng có một thỏa thuận kết nối qua NAP trong các thành phố khác, khi đó lưu lượng giữa 2 công ty này được lưu thông giữa các mạng tại NAP.
Trong thực tế, có đến hàng tá các nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn có kết nối với nhau tại các NAP trong nhiều thành phố khác nhau, và có đến hàng tỉ tỉ byte dữ liệu được truyền đi truyền lại giữa các mạng với nhau qua các NAP này. Internet chính là một collection các mạng công ty khổng lồ đã thỏa thuận kết nối với nhau tại các NAP. Theo cách này, mỗi một máy tính nằm trong Internet đều có khả năng kết nối được với nhau.
Chức năng của Router
Tất cả những mạng này đều dựa vào các NAP, mạng xương sống và các router để truyền thông với nhau. Ở đây có một vấn đề khó tin về quá trình một thông báo có thể rời một máy tính này và di chuyển hầu như khắp thế giới thông qua các mạng khác nhau, đến được một máy tính khác trong một lượng thời gian rất ngắn (tính theo phân số của giây).
Các Router chỉ ra nơi để gửi thông tin từ một máy tính này đến máy tính khác, chúng chính là các máy tính đặc biệt dùng để gửi thông báo của bạn đến được các đích theo hàng nghìn đường khác nhau. Một router có hai vấn đề tách biệt nhưng có liên quan với nhau:
Bảo đảm thông tin không đi vào những nơi không cần thiết và cần phải có một số lượng phân vùng lớn dữ liệu để tránh cản trở các kết nối của những địa chỉ không liên quan (những địa chỉ không phải là đích đến).
Bảo đảm cho các thông tin đến được đúng đích như dự định
Trong quá trình thực thi hai công việc này, các router còn có tác dụng trong việc giao tiếp giữa hai mạng máy tính tách biệt nhau. Nó sẽ nối hai mạng này với nhau, gửi các thông tin từ mạng này sang mạng kia và ngược lại. Bảo vệ các mạng, ngăn chặn lưu lượng trên một mạng không cần thiết tràn vào một mạng khác. Không quan tâm về số lượng các mạng được gắn kèm, hoạt động và chức năng cơ bản của các router hoàn toàn giống nhau. Internet là một mạng lớn được thiết lập từ hàng chục nghìn mạng nhỏ hơn nên sự sử dụng các router là tuyệt đối cần thiết.
Mạng xương sống National Science Foundation (NSF) đã xây dựng một mạng xương sống tốc độ cao vào năm 1987. Mạng xương sống này có tên gọi NSFNET, nó là một đường trục T1 để kết nối 170 mạng nhỏ hơn với nhau và hoạt động với tốc độ 1,544 Mbps. IBM, MCI và Merit đã làm việc với NSF để tạo mạng xương sống và đã phát triển lên các hệ thống đường trục T3 (45Mbps) những năm sau đó.
Mạng xương sống điển hình là các đường trục cáp quang. Các đường trục này có nhiều cáp quang được kết hợp với nhau để tăng dung lượng. Cáp quang được thiết kế dưới các kiểu khác nhau dựa vào sóng mang quang học, chẳng hạn như OC-3, OC-12 hoặc OC-48. Đường OC-3 có khả năng truyền tải đến 155Mbps còn OC-48 có thể truyền tải 2.488 Mbps (2,488 Gbps). So với modem 56K truyền thống thì bạn có thể thấy được tốc độ của mạng xương sống nhanh hơn cỡ nào.
Ngày nay có nhiều công ty hoạt động trên các mạng xương sống dung lượng cao của chính họ, tất cả các mạng này đều kết nối với các NAP trên toàn thế giới. Theo cách này, mọi người trên Internet dù bất cứ nơi đâu, họ và những gì công ty họ sử dụng đều có khả năng truyền thông với nhau. Toàn bộ Internet là một sự thỏa thuận khổng lồ giữa các công ty để truyền thông dễ dàng.
Giao thức Internet: Địa chỉ IP
Mỗi máy tính trên mạng đều có một số nhận diện duy nhất được gọi là địa chỉ IP. IP là tên được viết tắt của Internet Protocol, đây là một ngôn ngữ mà các máy tính sử dụng nhằm mục đích truyền thông với nhau trên Internet. Một giao thức chính là cách đã được định nghĩa từ trước mà ai đó muốn sử dụng một dịch vụ để truyền thông với dịch vụ đó. “Ai đó” ở đây có thể là một người, nhưng thường nó là một chương trình máy tính như trình duyệt web chẳng hạn.
Một địa chỉ IP điển hình có dạng:
216.27.61.137
Để làm cho nó dễ dàng hơn trong việc ghi nhớ, các địa chỉ IP được trình bày theo định dạng hệ thập phân giống như trên. Tuy nhiên các máy tính lại truyền thông theo dạng nhị phân. Hệ thập phân của địa chỉ IP trên sẽ được trình bày trong dạng nhị phân khi các máy tính làm việc:
11011000.00011011.00111101.10001001
Bốn số trong một địa chỉ IP được gọi là các bộ tám (octet), vì chúng được thể hiện bằng 8 số nhị phân. Nếu sử dụng tất cả các vị trí này cùng nhau thì bạn sẽ có 32 bit, đó là lý do tại sao các địa chỉ IP được gọi là các số 32 bit. Do một trong 8 vị trí này đều có hai trạng thái khác nhau (1 và 0), nên nó có thể thể hiện được 28 hay 256 sự kết hợp. Chính vì vậy mỗi octet có thể gồm các giá trị từ 0 đến 255. Sự kết hợp của 232 này bạn sẽ có được 4.294. 967.296 giá trị.
Trong số gần 4,3 tỉ sự kết hợp này có một vài giá trị nào đó bị hạn chế trong sử dụng, nó sẽ không như một địa chỉ IP điển hình. Ví dụ như, địa chỉ 0.0.0.0 được dành riêng cho mạng mặc định và địa chỉ 255.255.255.255 được sử dụng cho quảng bá.
Các octet thực hiện một mục đích khác với việc phân chia một cách đơn giản các số. Chúng được sử dụng để tạo các lớp địa chỉ IP có thể được gán cho một doanh nghiệp, chính phủ hoặc một thực thể nào đó dựa trên kích thước và nhu cầu. Các octet được chia thành hai phần: Phần Net và phần Host. Phần Net luôn chứa octet đầu. Nó được sử dụng để phân biệt mạng mà máy tính nằm trong đó. Host (đôi khi được nói đến như một Nút – Node) để phân biệt các máy tính trong mạng với nhau. Phần Host luôn chứa các octet còn lại. Có 5 lớp IP cộng với các địa chỉ đặc biệt nào đó. Để tìm hiểu thêm về địa chỉ IP chúng tôi sẽ dành riêng một bài nào đó để chỉ cho các bạn rõ về địa chỉ IP là gì.
Giao thức Internet: Hệ thống tên miền (DNS)
Khi Internet ngay từ thủa sơ khai, nó đã xem xét đến một số lượng các máy tính nhỏ được kết nối với nhau bằng các modem và đường điện thoại. Bạn chỉ có thể tạo các kết nối bằng cách cung cấp địa chỉ IP của máy tính mà bạn muốn thiết lập một liên kết với nó. Ví dụ, một địa chỉ IP điển hình có thể là 216.27.22.162. Mọi thứ đều sẽ hoạt động tốt nếu chỉ có một vài host, tuy nhiên nó sẽ trở nên cồng kềnh và khó nhớ khi ngày càng nhiều hệ thống online.
Giải pháp đầu tiên để giải quyết vấn đề này là một file văn bản đơn giản được dùy trì bởi Network Information Center dùng để ánh xạ hóa các tên thành địa chỉ IP. Càng ngày văn bản này trở lên quá lớn trong việc quản lý. Năm 1983, Đại học Wisconsin đã tạo được Domain Name System (DNS), để ánh xạ hóa các tên văn bản thành địa chỉ IP một cách tự động. Theo cách này, bạn chỉ cần nhớ đến tên miền www.quantrimang.com thay vì phải nhớ địa chỉ IP của nó.
URL: Uniform Resource Locator
Khi bạn sử dụng Web hoặc gửi một email, bạn thường sử dụng tên miền để thực hiện điều đó. Ví dụ, Uniform Resource Locator (URL) “http://www.quantrimang.com” có chứa tên miền quantrimang.com. Mỗi lần sử dụng một tên miền, bạn sẽ dụng các máy chủ DNS của Internet để thông dịch tên miền mà con người có khả năng đọc thành các địa chỉ IP mã máy.
Các tên miền cấp 1, được gọi là tên miền mức đầu tiên bao gồm .COM, .ORG, .NET, .EDU và .GOV. Bên trong mỗi tên miền cấp 1 này lại có một danh sách lớn các miền cấp thứ hai. Ví dụ như trong miền mức đầu tiên .COM ở đây là: QuanTriMang.com
Mỗi một miền trong miền hàng đầu top-level .COM phải là duy nhất. Từ gần bên trái nhất và sau www, chính là tên host. Nó chỉ định tên của một máy nào đó (với địa chỉ IP cụ thể) trong một miền. Một miền nào đó được cho có thể gồm đến hàng triệu tên host miễn là chúng đều duy nhất bên trong miền đó.
Các máy chủ DNS chấp nhập yêu cầu từ các chương trình và máy chủ tên khác để chuyển đổi các tên miền thành địa chỉ IP. Khi một yêu cầu nào đó được đưa ra, máy chủ DNS có thể thực hiện một trong bốn thứ dưới đây:
1. Có thể trả lời yêu cầu cho một địa chỉ IP vì nó đã biết địa chỉ IP cho miền được yêu cầu.
2. Có thể liên lạc với máy chủ DNS khác và tìm ra địa chỉ IP cho tên đã được yêu cầu. Có thể phải thực hiện việc tìm kiếm này nhiều lần.
3. Nó có thể báo rằng: “Không biết địa chỉ IP cho miền mà bạn yêu cầu nhưng đây là địa chỉ IP cho một máy chủ DNS mà nó biết.”
4. Có thể trả về một thông báo lỗi vì tên miền yêu cầu không hợp lệ hay không tồn tại.
Một ví dụ về DNS
Hãy giả dụ rằng bạn đánh URL www.quantrimang.com vào trình duyệt của mình. Trình duyệt sẽ liên lạc với DNS server để lấy về địa chỉ IP. DNS server sẽ bắt đầu công việc tìm kiếm địa chỉ IP của nó bằng cách liên lạc với một trong các máy chủ DNS gốc (root DNS server). Các máy chủ gốc biết địa chỉ IP của tất cả các máy chủ DNS mà nó quản lý miền cấp 1 (COM, .NET, .ORG, …). DNS server của bạn sẽ hỏi máy chủ gốc về www.quantrimang.com, máy chủ gốc sẽ nói nó không biết địa chỉ IP cho www.quantrimang.com nhưng đây là địa chỉ IP cho máy cho DNS .COM.
Sau đó máy chủ tên miền của bạn sẽ gửi một truy vấn đến máy chủ DNS .COM yêu cầu xem nó có biết địa chỉ IP cho www.quantrimang.com hay không. Máy chủ DNS cho miền .COM biết các địa chỉ IP cho máy chủ tên miền đang quản lý miền www.quantrimang.com, vì vậy nó gửi trả về các vấn đề được yêu cầu.
Máy chủ tên miền của bạn sẽ liên hệ với máy chủ DNS về www.quantrimang.com và hỏi xem nó có biết địa chỉ IP cho www.quantrimang.com hay không. Và ở đây máy chủ DNS về www.quantrimang.com sẽ đáp trả địa chỉ IP cho máy chủ DNS của bạn, sau đó máy chủ DNS sẽ trả nó về trình duyệt, và có thể liên lạc với máy chủ về www.quantrimang.com để lấy được nội dung của trang.
Một trong những khía cạnh làm cho những thao tác trên làm việc là có rất nhiều máy chủ DNS. Rất nhiều máy chủ DNS ở các mức, chính vì vậy nếu một máy chủ DNS nào đó bị lỗi thì vẫn có nhiều máy chủ khác quản lý các yêu cầu. Khía cạnh khác là việc lưu trữ. Khi một máy chủ DNS nào đó giải quyết một yêu cầu thì sẽ lưu địa chỉ IP mà nó nhận. Khi đã tạo một yêu cầu cho máy chủ DNS gốc về miền .COM thì nó sẽ biết địa chỉ IP cho máy chủ DNS đang quản lý miền .COM, vì vậy sẽ không bị rối với các máy chủ DNS gốc về các thông tin đó. Các máy chủ DNS có thể thực hiện nhiệm vụ này với mọi yêu cầu và việc lưu trữ này cũng giúp ích khi gặp một số vấn đề xảy ra.
Máy chủ (Server) và máy khách (Client) Internet
Tất cả các máy tính trên Internet đều là máy chủ hoặc máy khách. Tuy nhiên có sự phân biệt giữa chúng. Các máy tính có khả năng cung cấp dịch vụ cho các máy tính khác được gọi là máy chủ. Còn máy tính mà được sử dụng để kết nối đến các dịch vụ đó là máy khách. Có nhiều máy chủ Web, email server, FTP server và chính vì vậy nó mới có thể phục vụ được nhiều nhu cầu của tất cả người dùng trên toàn thế giới.
Khi bạn kết nối đến www.quantrimang.com để đọc các trang thông tin, bạn sẽ là một người dùng đang dùng máy khách của mình đề truy cập vào máy chủ chứa nội dung trang này. Máy chủ tìm trang mà bạn yêu cầu và gửi nó đến cho bạn. Các máy khách truy cập vào máy chủ thực hiện như vậy với một ý định cụ thể, vì vậy các máy khách hướng yêu cầu của chúng đến một máy chủ phần mềm cụ thể đang chạy trên máy chủ. Ví dụ, nếu bạn đang chạy một trình duyệt web trên máy của mình, nó sẽ thông báo cho máy chủ Web trên máy chủ chứ không phải máy chủ email.
Một máy chủ có một địa chỉ IP tĩnh không thay đổi thường xuyên còn máy tính ở nhà của bạn khi thực hiện quay số hay ADSL qua một modem có địa chỉ IP thay đổi được gán bởi ISP mỗi lần kết nối. Địa chỉ IP đó là duy nhất với phiên làm việc hiện tại của bạn và có thể khác nhau trong những lần kết nối tiếp theo. Theo cách này, một ISP chỉ cần một địa chỉ IP cho mỗi một modem mà nó hỗ trợ chứ không phải mỗi một IP cho một khách hàng.
Các cổng và HTTP
Bất kỳ máy chủ nào cung cấp các dịch vụ có sẵn đều sử dụng các cổng có đánh số – một trong những dịch vụ có sẵn trên máy chủ. Ví dụ, nếu một máy chủ đang chạy Web server và một máy chủ giao thức truyền tải file FTP, máy chủ Web sẽ có sẵn trên cổng 80, và máy chủ FTP sẽ có sẵn trên cổng 21. Các máy khách kết nối tới dịch vụ ở một địa chỉ IP nào đó và trên một số cổng cụ thể.
Khi một client kết nối với dịch vụ trên một cổng nào đó thì nó có thể truy cập vào dịch vụ bằng cách sử dụng một giao thức nào đó. Các giao thức thường là các văn bản và đơn giản mô tả cách client và máy chủ sẽ truyền thông với nhau như thế nào. Mọi Web server trên Internet đều thích nghi với giao thức hypertext transfer protocol (HTTP).
Các mạng, router, NAP, ISP, DNS và các máy chủ khác, tất cả làm cho Internet được hiện hữu. Hoàn toàn không ngạc nhiên khi bạn nhận ra rằng tất cả các thông tin này đều được gửi khắp thế giới trong một phần mili giây. Chúng là các thành phần rất quan trọng trong đời sống hiện đại, không có chúng sẽ không hề có Internet. Và không có Internet, đời sống sẽ rất khó khăn cho chúng ta.
PHPDevShell is a stable, secure, fast PHP Web administration framework. It allows rapid deployment of Web based PHP applications. Robust, secure, clean, fast, including many administrative functions, the framework supports an unlimited number of users, user groups, security levels, menu tree levels, and menus.
Latest update include major feature and stability enhancements in the core, database layer, GUI, security, template engine, caching, gzipping, and navigation system, with all reported bugs fixed. PHPDevShell is available under the GNU (LGPL) Open Source License.
OpenPanel is a completely modular open source control panel for Internet Service Providers. The solution provides all basic hosting services for setting up domains, including DNS, email, websites and databases. A layered authentication system allows the administrator to create accounts with specified limitations for end-users. All of the system’s users will be able to control system configuration using either an intuitive graphical interface or a powerful command line configuration shell.
In addition to the fact that OpenPanel is free, it also came with an intuitive layout and an attractive, professional look. In addition to the graphical interface, a Command Line Interface is available for busy people. OpenPanel is compatible with RedHat Enterprise Linux 4 and CentOS 4, Debian GNU/Linux 4 and Ubuntu 7.10 and 8.04. Services offered include : Apache2, OpenSSH, BIND9, Postfix, Courier-IMAP, PureFTPd, MySQL, IPTables, apt, yum, Amavis, SpamAssassin and AWStats.
Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số vấn đề cơ bản về FTP Publishing Service mới trong IIS 7.0 (Internet Information Services 7.0) cùng với các bước hướng dẫn chi tiết trong cài đặt dịch vụ FTP này.
Hoàn toàn không phải bí mật lớn rằng Microsoft chưa từng có sản phẩm FTP server tốt nhất, khi so với các đối thủ cạnh tranh khác trong lĩnh vực thương mại máy chủ FTP. Mặc dù Microsoft luôn có FTP Server trong hầu hết tất cả các phiên bản trước của IIS và Windows Server, nhưng họ luôn thiếu rất nhiều các tính năng máy chủ FTP nâng cao. Tuy nhiên lúc này Microsoft đã vượt qua được rất nhiều vấn đề đó, với phiên bản mới của FTP Publishing Service, phiên bản được phát hành chính thức khi Windows Server 2008 được ra mắt. Dịch vụ mới này đã được viết lại toàn bộ, giống như IIS 7.0 và nó chỉ cung cấp cho IIS 7.0.
Tại sao lại có hai máy chủ FTP và sự khác nhau giữa nó là gì?
- Đầu tiên nó là một nâng cấp minor và khá giống với FTP Service có trong IIS 6.0.
- Thứ hai FTP Service là một phiên bản mới được cải thiện, được cung cấp như một bản download và chỉ cho IIS 7.0.
Bài này của chúng tôi sẽ tập trung vào phiên bản mới được cải thiện của FTP Publishing Service này.
FTP Service mới có nhiều tính năng cho phép các nhà thiết kế web dễ dàng publish các nội dung và nó cũng cung cấp nhiều tùy chọn bảo mật và triển khai hơn đối với các quản trị viên. Nó cũng có sẵn cho Windows Server 2008 ở cả hai phiên bản 32-bit và 64-bit.
Những điểm mới
FTP Publishing Server mới gồm có rất nhiều tính năng và các cải thiện. Dưới đây chúng tôi sẽ chỉ ra một số chủ đề mới chính và mô tả một trong số các nâng cao mới này.
Sự tích hợp với IIS 7.0 FTP service mới này được tích hợp mạnh với giao diện quản trị hoàn toàn mới và kho lưu trữ cấu hình của IIS 7.0
Hỗ trợ cho các chuẩn Internet mới
FTP service mới hỗ trợ FTP trên SSL, cũng được biết đến như FTPS hoặc FTP/SSL và sử dụng chứng chỉ khóa công (SSL/TLS). Bạn không nên nhầm lẫn nó với SFTP hoặc FTP trên SSH, đây hoàn toàn là một chuẩn khác hiện không hỗ trợ bởi Microsoft FTP Publishing Service. Nó cũng hỗ trợ các cải thiện khác như UTF8 và IPv6.
Chia sẻ hosting FTP service mới được cải thiện và được tích hợp hoàn toàn vào IIS 7.0, nó có thể cấu hình FTP và các nội dung web từ cùng một site bằng cách add một FTP binding (kết nối FTP) vào một website đang tồn tại. Dịch vụ FTP cũng có sự hỗ trợ cho hostname ảo, dịch vụ này làm cho nó có thể hosting nhiều site FTP trên cùng một địa chỉ IP. Nó cũng cải thiện cả sự cách ly người dùng dùng thông qua các thư mục ảo.
Khả năng mở rộng
Dịch vụ FTP mới này có hỗ trợ khả năng mở rộng (API), tính năng này làm cho nó trở nên dễ dàng hơn đối với các hãng phần mềm trong việc viết các tùy chỉnh cho việc chứng thực FTP.
Logging
Việc logging của FTP đã được cải thiện và nâng cao để gộp tất cả lưu lượng FTP vào các file bản ghi
Các tính năng khắc phục sự cố
IIS 7.0 có một số tính năng khắc phục sự cố mới, như Event Tracing cho Windows (ETW), dịch vụ FTP hỗ trợ tính năng này cùng với việc cung cấp các thông báo xử lý lỗi chi tiết và các thông báo đến người dùng cục bộ, cũng là một tùy chọn mới cho IIS 7.0.
Các điều kiện tiên quyết cho việc cài đặt
FTP Publishing Service mới hiện được cung cấp một cách miễn phí dưới dạng một modul có thể download từ IIS.net DownloadCenter.
Một số điều kiện tiên quyết cần cho phải bảo đảm trước khi tiếp tục cài đặt FTP Publishing Service.
• Bạn phải đang sử dụng Windows Server 2008
• IIS 7.0 phải được cài đặt
• Nếu bạn muốn quản lý các dịch vụ FTP mới bằng giao diện IIS 7.0 thì phải cài đặt IIS Management Console.
• Phải đăng nhập với quyền quản trị viên
• Cấu hình chia sẻ của IIS 7.0 phải được vô hiệu hóa trên mỗi nút trước khi cài đặt dịch vụ mới này, và nó có thể được kích hoạt trở lại sau khi dịch vụ này được cài đặt xong.
• Dịch vụ FTP có trong Windows Server 2008 phải được gỡ bỏ trước khi cài đặt dịch vụ FTP mới này.
Cài đặt
Trong hướng dẫn từng bước này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách cài đặt dịch vụ FTP trên một máy chủ Windows Server 2008 mới. Lưu ý chúng tôi chỉ giới thiệu đến phần cài đặt FTP chứ không đề cập đến các dịch vụ của IIS 7.0.
• Download phiên bản FTP Service mới từ liên kết ở trên
• Chạy chương trình đã download với quyền quản trị viên để cài đặt hoặc cài đặt bằng một trong hai lệnh dưới đây:
- x86 version: msiexec /i ftp7_x86_rtw.msi
- x64 version: msiexec /i ftp7_x64_rtw.msi
• Các bước này rất quan trọng vì User Account Control (UAC) thường ngăn chặn bạn thực hiện việc truy cập file applicationHost.config.
• Khi chương trình cài đặt bắt đầu, bạn kích Next:
Chấp nhận EULA và kích Next:
Chọn các tùy chọn bạn muốn cài đặt và kích Next:
Các tính năng cài đặt được mô tả:
Common files
Cung cấp các file chung cho Microsoft FTP Service for IIS 7.0, như file lược đồ cấu hình FTP, các file này được yêu cầu trên tất cả các máy chủ FTP đang sử dụng nút cấu hình chia sẻ.
FTP Publishing Service
FTP Publishing Service, thành phần lõi cần thiết cho FTP để làm việc và yêu cầu Process Model của tính năng Windows Process Activation Service được cài đặt.
Managed Code Support Hỗ trợ cho các tính năng mã có sẵn. Tính năng này được yêu cầu khi các tính năng mã có sẵn như ASP.NET users hoặc IIS Manager Users, sẽ được sử dụng với FTP. Tính năng này mang tính tùy chọn và sẽ không làm việc khi chạy Windows Server 2008 trong chế độ Server Core.
Administration Features Hỗ trợ việc quản trị bằng IIS Manager, giao diện người dùng (UI).Tính năng này yêu cầu phải có the IIS Manager và .NET 2.0 Framework đã được cài đặt.
Bắt đầu cài đặt, kích Install:
Kích “Read notes” để xem readme và kích Finish:
Xác nhận FTP Service đã được cài đặt bằng cách kiểm tra xem Microsoft FTP Service có đang chạy không và trong IIS Manager kiểm tra phần FTP mới với tất cả các thành phần quản lý cho FTP Service.
Mặc định máy chủ FTP sẽ khóa và không chấp nhận các yêu cầu FTP.
Từ bên trong IIS Manager bạn hoàn toàn có thể dễ dàng publish một FTP mới hoặc add một FTP Publishing vào website đã tồn tại.
Với mục đích bảo mật người dùng, FTP Service hỗ trợ sự nặc danh, thứ không được khuyến khích và cũng có hai cách chứng thực người dùng FTP của bạn:
Windows Authentication Người dùng được đặt trong Active Directory hoặc khu vực lưu trữ người dùng nội bộ trong máy chủ FTP chuyên dụng.
IIS Manager Authentication Đây là một tính năng mới, nơi IIS Manager được sử dụng cho quản trị viên người dùng và tất cả người dùng được add bằng IIS Manager, việc chứng thực được quản lý bởi bộ cung cấp “IISManagerAuth” mới.
Kết luận
Phiên bản mới FTP Publishing Service với khả năng download từ Microsoft là một phiên bản đáng được chờ đợi. Đây là một công cụ tuyệt vời mà Microsoft đã sửa và viết lại FTP Server thành phát hành mới với sự hỗ trợ cho FTP-S.
Tính bảo mật và khả năng mã hóa thường không có trong các phiên bản cũ.
Một ưu điểm khác của dịch vụ mới này đó là sự tích hợp trong IIS Manager và việc kết nối trực tiếp với các website đang tồn tại bên trong IIS Manager.